Tổng quan về bệnh viêm phế quản

1, Viêm phế quản là gì?

Viêm phế quản (VPQ) là một bệnh lý của đường hô hấp trong đó niêm mạc của các phế quản trong phổi bị viêm. Niêm mạc phế quản bị kích thích sẽ phồng và dầy lên và làm hẹp hoặc tắc nghẽn các tiểu phế quản, sẽ gây ra ho và có thể kèm theo đờm (đàm) đặc. Bệnh diễn tiến theo 2 dạng: cấp tính (kéo dài ngắn hơn 6 tuần) và mạn tính (tái phát thường xuyên trong vòng hơn 2 năm). Ngoài ra, ở những bệnh nhân bị hen phế quản (hen suyễn) thì niêm mạc phế quản cũng có thể bị viêm và gây nên tình trạng gọi là viêm phế quản dạng hen.

VPQ cấp tính bao gồm các triệu chứng ho có đờm và thỉnh thoảng có kèm nhiễm trùng đường hô hấp trên. Hầu hết nhiễm trùng này có nguyên nhân ban đầu là do siêu vi (virus), đôi khi còn do vi khuẩn. Nếu cơ thể bạn đang trong tình trạng sức khỏe tốt thì niêm mạc đường hô hấp sẽ trở về bình thường sau khi hồi phục từ nhiễm trùng hô hấp kéo dài trong vài ngày.

VPQ mạn tính là bệnh diễn tiến nặng và kéo dài, thường phải được điều trị đều đặn.
Nếu bạn là người hút thuốc và mắc VPQ cấp tính thì cơ thể bạn sẽ khó hồi phục hơn. Thậm chí nếu một người chỉ hít một hơi ngắn thuốc lá cũng đủ làm liệt tạm thời những lông mao có tác dụng đẩy những chất kích thích, bụi và những chất đờm nhầy trong đường hô hấp ra bên ngoài.

Nếu bạn vẫn tiếp tục hút thuốc, có nghĩa là những lông mao này tiếp tục bị tổn thương và không thể thực hiện đúng nhiệm vụ của chúng nữa, và do đó làm gia tăng nguy cơ khởi phát bệnh VPQ mạn tính. Ở những người nghiện hút thuốc nặng, hàng loạt lông mao sẽ bị mất chức năng. Phổi bị tắt nghẽn do nhiều đờm nhớt sẽ dễ bị nhiễm siêu vi và nhiễm khuẩn, theo thời gian sẽ gây biến dạng và tổn thương vĩnh viễn đường hô hấp trong phổi. Hiện tượng tổn thương vĩnh viễn này còn được gọi là Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Khi đó, bác sĩ sẽ tiến hành một thử nghiệm để đánh giá chức năng hô hấp được gọi là phế dung kế.

VPQ cấp tính thường gặp ở cả người lớn và trẻ em. Bệnh này có thể được điều trị hiệu quả mà không cần phải tiến hành chăm sóc y tế đặc biệt. Tuy nhiên, bệnh nhân cần được đưa đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị khi có các triệu chứng nặng nề, kéo dài, hoặc bệnh nhân bị ho ra máu. Nếu bệnh nhân bị VPQ mạn tính thì sẽ có nguy cơ khởi phát các bệnh lý về tim mạch cũng như những bệnh lý nặng nề về hô hấp và nhiễm trùng. Do đó bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.

2, Các nguyên nhân gây nên bệnh viêm phế quản:



VPQ cấp tính: Thường do viêm nhiễm ở phổi, 90% bắt nguồn từ siêu vi (virus), 10% từ vi khuẩn.

VPQ mạn tính: Thường do một hoặc nhiều yếu tố. Nhiều đợt VPQ cấp lặp đi lặp lại theo thời gian sẽ làm suy yếu và gây kích thích ở phế quản, và có thể gây nên VPQ mạn tính. Ô nhiễm công nghiệp cũng là một thủ phạm. VPQ mạn tính thường gặp ở những người khai thác than, tiếp xúc thường xuyên với ngũ cốc, làm khuôn đúc kim loại, tiếp xúc liên tục với bụi. Nhưng nguyên nhân chính là nghiện thuốc lá nặng trong thời gian dài mà có thể làm kích thích phế quản và khiến chúng tiết ra quá nhiều chất đờm nhầy. Các triệu chứng của VPQ mạn tính có thể bị nặng hơn nếu trong không khí có nhiều SO2 hay các chất ô nhiễm khác

3, Các triệu chứng của VPQ là gì?
Các triệu chứng có thể gặp trong VPQ cấp tính là:

  • Ho liên tục
  • Có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây, thường xuất hiện từ 24 - 48 giờ sau khi ho
  • Sốt cao, lạnh run
  • Đau hay cảm giác thắt ngực
  • Đau dưới xương ức khi thở
  • Thở ngắn

Các triệu chứng có thể gặp trong VPQ mạn tính:


  • Ho kéo dài có đờm màu vàng, trắng hoặc xanh lá cây (kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và liên tục trong hơn 2 năm)
  • Hơi thở khò khè, đôi khi ngừng thở
  • Các dấu hiệu nặng của VPQ cần được phát hiện sớm để đưa bệnh nhân đến bác sĩ
  • Cần đưa bệnh nhân đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị thích hợp khi bệnh nhân có một trong những dấu hiệu sau:
  • Ho nhiều, kéo dài và làm ảnh hưởng đến giấc ngủ hoặc các sinh hoạt hàng ngày, hoặc có kèm đau ngực dai dẳng. Có thể bệnh nhân đang bị tổn thương các phế nang bên trong phổi.
  • Các triệu chứng kéo dài trên 1 tuần, và đờm trở nên nhiều hơn, sậm màu hơn, đặc hơn hoặc có máu
  •  Bệnh nhân bị VPQ cấp tính mà có kèm các vấn đề về tim phổi mạn tính, hoặc bị nhiễm virus HIV, nhiễm trùng hô hấp... mà có thể làm cho bệnh nhân dễ mắc các bệnh lý ở phổi nặng hơn như viêm phổi.
  • Khó thở. Đây là triệu chứng thường bị hiểu lầm là do VPQ. Nhưng nó còn là dấu hiệu của bệnh hen suyễn, khí phế thủng, lao phổi, bệnh tim, phản ứng dị ứng nặng hoặc do ung thư.

4, Điều trị bệnh VPQ như thế nào?
Điều trị thông thường cho VPQ cấp tính bao gồm nghĩ ngơi, uống nhiều nước, ngưng hút thuốc, tránh bị xúc động, có thể sử dụng các thuốc hít để làm dãn phế quản và có thể kèm thuốc ho.

Đối với trường hợp VPQ mạn tính nặng thì sử dụng thuốc nhóm steroid đường hít hoặc uống để làm giảm viêm và có thể cho bệnh nhân thở oxy khi cần thiết.

Ở những người khỏe mạnh có phổi bình thường và không mắc bệnh mạn tính thì việc sử dụng kháng sinh là không cần thiết, thậm chí cả khi bị nhiễm khuẩn. Ho có đờm trong VPQ cấp tính trong hầu hết các trường hợp là một phản xạ tốt. Nó giúp tống đờm được sản sinh ra quá nhiều trong đường hô hấp. Tuy nhiên, nếu triệu chứng ho thật sự gây cản trở bệnh nhân khi ngủ hoặc gây đau thì bác sĩ có thể cho thêm thuốc ho. Nhưng trong đa số các trường hợp, bệnh nhân chỉ cần làm giống như điều trị một bệnh cảm cúm thông thường là uống acetaminophen, uống nhiều nước và không điều trị nhiễm trùng.
Trong trường hợp VPQ mạn tính, bệnh nhân thường dễ bị nhiễm trùng. Nếu bác sĩ không ngăn cản thì bệnh nhân nên được tiêm ngừa cúm và viêm phổi hàng năm.Vắc-xin ngừa viêm phổi thường là một mũi duy nhất. Một mũi vắc-xin sẽ giúp bảo vệ bệnh nhân khỏi các chủng vi khuẩn gây bệnh phổ biến.

Không nên tự ý mua thuốc ho ngoài quầy thuốc tây để điều trị VPQ mạn tính trừ khi đã được bác sĩ hướng dẫn. Cũng giống như đối với VPQ cấp tính, ho có đờm trong VPQ mạn tính cũng là điều có lợi vì giúp tống bớt những chất đờm trong đường hô hấp ra bên ngoài. Thực tế, đôi khi bác sĩ kê đơn thuốc long đờm khi bệnh nhân có ho tương đối khan hoặc đờm quá đặc không thể khạc ra ngoài. Bệnh nhân cần theo dõi đờm về màu sắc, số lượng, độ đặc để có thể biết được tình trạng nhiễm trùng hô hấp. Khi đó, bác sĩ có thể cho dùng kháng sinh phổ rộng từ 5 - 10 ngày để điều trị nhiễm trùng.
Trong trường hợp bạn quá cân, bác sĩ sẽ khuyên nên ăn kiêng để tránh quá tải cho tim. Nếu bạn bị kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đã được xác định thông qua kết quả bất thường trên phế dung kế thì bác sĩ có thể kê đơn thuốc dãn phế quản kháng hệ thống cholinergic. Đây là những thuốc giúp làm dãn tạm thời các phể quản bị hẹp trong phổi. Các bác sĩ cũng có thể sử dụng thuốc nhóm steroid để làm giảm hiện tượng viêm trong các phế quản. Tuy nhiên biện pháp điều trị quan trọng nhất và thành công nhất cho bệnh VPQ mạn tính và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là ngưng hút thuốc. Các công trình nghiên cứu cho thấy nếu bạn ngưng hút thuốc, thậm chí khi bệnh VPQ mạn tính và viêm phổi tắc nghẽn mạn tính đang trong giai đoạn tiến triển thì không những giúp làm giảm đi độ nặng của các triệu chứng mà còn giúp cải thiện tiên lượng cuộc sống.

Trong trường hợp VPQ mạn tính có kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nặng, thì cơ thể bị suy giảm về khả năng vận chuyển oxy từ phổi vào máu. Do đó bác sĩ có thể cho bạn thở oxy liên tục hoặc tùy theo nhu cầu. Những thiết bị cung cấp oxy hiện nay đang được phổ biến một cách rộng rãi. Nếu bạn sử dụng bình oxy tại nhà thì phải đặc biệt chú ý không được đặt thiết bị gần những chất dễ cháy nổ như rượu, xăng, các loại bình xịt... hoặc gần những nguồn nhiệt như bếp, máy sấy tóc, lò sưởi...

5, Chế độ điều trị tại nhà như thế nào?
VPQ cấp tính: Khi bị sốt, thở nhanh, khò khè thì bạn nên ở nhà, giữ ấm, uống nhiều nước. Không cần thiết phải luôn nằm tại giường, và cũng không nên vận động quá nhiều. Có thể sử dụng bình xịt hơi hoặc cố gắng hít hơi nước nóng từ trong bình chứa đầy nước nóng.

VPQ mạn tính: Tránh tiếp xúc với nước sơn, xúc động quá mức, bụi và người đang bị cảm cúm. Có thể sử dụng bình xịt hơi hoặc cố gắng hít hơi nước nóng từ bình chứa đầy nước nóng, mặc đồ ấm khi trời lạnh và khô. Cố gắng bỏ thuốc lá.

(Nguồn: sưu tầm)
Xem chi tiết…

Ăn nhiều thịt làm tăng nguy cơ ung thư khí quản-phổi

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, các yếu tố lối sống nhất định - đặc biệt hút thuốc lá và chế độ ăn nhiều thịt động vật - có liên kết mạnh nhất với tỷ lệ ung thư.

Thịt, cá, trứng được coi là sản phẩm động vật. Trước đây, ung thư phổi thường được nghĩ do hút thuốc lá và ô nhiễm không khí.

Nghiên cứu mới cho thấy hơn một nửa số người mắc ung thư ở 87 quốc gia là do hút thuốc và ăn nhiều thịt động vật. Ngoài ra, đồ uống có cồn cũng là tác nhân dù chiếm tỉ lệ ít hơn.

Chỉ số hút thuốc lá gấp 2 lần so với sản phẩm động vật ở nam giới. Tuy nhiên đối với nữ, tỉ lệ này lại ngược lại.

Nhóm nghiên cứu thấy rằng các sản phẩm động vật có mối tương quan mạnh nhất trong một số bệnh ung thư nhất định, bao gồm vú, thận, buồng trứng, tuyến tụy, tuyến tiền liệt, tinh hoàn và ung thư tuyến giáp.

Sản phẩm động vật có thể làm tăng nguy cơ ung thư, các nhà nghiên cứu nói, bởi vì chúng thúc đẩy tăng trưởng các khối u bằng cách sản xuất insulin như yếu tố tăng trưởng-I (IGF-I).

Chế độ ăn truyền thống của Nhật chỉ chiếm 10% lượng calo từ các sản phẩm động vật. Nhưng Nhật Bản lại chuyển sang chế độ ăn uống phương Tây, trong đó có 20% năng lượng từ các sản phẩm này.

Tỷ lệ những bệnh ung thư phổ biến tại các nước phương Tây đã tăng lên đáng kể ở Nhật Bản trong 20-30 năm qua.

Các phát hiện khác của nghiên cứu cho thấy đồ uống có cồn tương quan với ung thư đại trực tràng, và các chất làm ngọt có liên quan đến tỷ lệ mắc ung thư não ở phụ nữ, tuyến tụy và ung thư tuyến tiền liệt.

Nguồn: Kiến thức.


Xem chi tiết…

Ăn đu đủ có tác dụng chống ung thư khí quản

Đu đủ được mệnh danh là “thiên thần” của các loại hoa quả. Bởi lẽ, không những ngon ngọt với lớp vỏ sáng bóng, mịn màng và mọng nước, đu đủ con là một nguồn dinh dưỡng bổ ích cho sức khỏe con người.

du-du 10-18111 Ăn đu đủ có tác dụng chống ung thư

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra ở đu đủ, ngoài tác dụng thúc đẩy quá trình tiêu hóa, chống sưng và viêm nhiễm, tăng cường hệ miễn dịch thì nó nó còn có khả năng bảo vệ phổi và giúp cho các khớp xương được chắn chắn.

Dưới đây, chuyên mục Sức khỏe sẽ gửi đến các bạn những thông tin về tác dụng của đu đủ đối với phụ nữ nói riêng và loại trừ căn bệnh ung thư nói chung!

Đu đủ có khả năng chống lại căn bệnh ung thư vú

Các nhà khoa học đã nghiên cứu dựa trên cơ sở các loại hoa quả được tiêu thụ ở Mexico để  tìm ra loại nào có thể chống lại ung thư vú. Những loại quả được khảo sát bao gồm: bơ, sapoche, xoài, dứa, nho, cà chua, ổi và đu đủ.

Họ đã xem xét chất chống oxy hóa, lượng beta-carotene, phenon và axit gallic trong các loại hoa quả này và đi đến kết luận: đu đủ chính là loại quả có thể ngăn không cho các tế bào ung thư vú phát triển, kìm hãm các tế bào di căn và làm cho chu kì tế bào hoạt động bình thường.

Đu đủ đối kháng bệnh ung thư tuyến tiền liệt

Màu sắc cam, vàng mạnh của đu đủ cho thấy nó có chứa rất nhiều các chất carotene chống ung thư. Không những có chứa hàm lượng lớn beta carotene và lycopene, đu đủ còn chứa chất chống oxy hóa cao. Các nhà khoa học cho rằng  chất này trong đu đủ đóng vai trò tích cực chống lại căn bệnh ung thư.

Các nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa đu đủ và việc làm giảm nguy cơ mắc phải ung thư tuyến tiền liệt. Họ cho biết, bên cạnh chống oxy hóa thì lycopene trong đu đủ cũng có thể tiêu diệt các tế bào ung thư, ngăn chặn sự di căn đồng thời tăng cường enzym có lợi.

Một nghiên cứu ở Úc đã được tiến hành trên 130 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt và 274 trường hợp đang chữa trị. Các nhà khoa học nhận thấy, ở những nam giới ăn các loại hoa quả giàu lycopene như đu đủ thì khả năng mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt sẽ ít hơn những người không ăn loại quả này là 82%.

Đu đủ giúp phục hồi chu kì tế bào để loại bỏ ung thư

Các hợp chất organo-sunphua hay còn gọi là isothiocyanates đã được tìm thấy rất nhiều trong đu đủ. Từ những thí nghiệm trên động vật, các nhà nghiên cứu nhận thấy loại chất này có tác dụng chống lại căn bệnh: Ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, phổi, tuyến tụy và bạch cầu…

(Isothiocyanates có khả năng hạn chế sự hình thành và phát triển của các tế bào ung thư thông qua cơ chế khá phức tạp)

Nguồn: Thucpham.
Xem chi tiết…

4 lý do không nên ăn nhiều bánh mì trắng

Những chiếc bánh mì trắng chứa rất ít chất dinh dưỡng. Nó là nhúm bột được nhào với bột nở khiến bánh phồng to lên mà thôi.

Bánh mì trắng không nhiều chất dinh dưỡng

Vì chỉ là dúm bột được nở to lên, nên thực ra bánh mì cũng không có nhiều dinh dưỡng. Tuy nhiên, nếu nó được làm từ ngũ cốc nguyên hạt và không có bột nở thì bạn có thể lựa chọn cho bữa ăn sáng.

banh_my_trang
Bánh mì trắng
Chứa nhiều muối

Hầu hết bánh mì đều chứa rất nhiều muối. Vì vậy, nếu bạn ăn ít bánh, lượng natri trong cơ thể bạn sẽ giảm đáng kể.

Làm cho bạn tăng cân

Nếu bạn ăn quá nhiều bánh mì, tất cả tinh bột, muối, đường tinh chế và chất bảo quản có trong bánh có thể làm cho bạn béo phì. Vì vậy, nên ăn ở mức độ giới hạn.

Ăn nhiều bánh mì trắng tăng nguy cơ bị bệnh tim

Theo một nghiên cứu, những người ăn nhiều bánh mì trắng sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh tim so với người ăn ít các loại thực phẩm này.

Các nhà nghiên cứu chọn chỉ số GI từ 1 đến 100 phản ánh mức độ đường huyết ảnh hưởng tới cơ thể như thế nào và bánh mì trắng có chỉ số GI là 100. Những thực phẩm nằm dưới ngưỡng 55 được coi là có chỉ số GI thấp và gây ra sự dao động nhỏ về đường huyết và mức insulin, những thực phẩm có chỉ số GI trên 70 bị xếp vào nhóm GI cao và có xu hướng kích động đường huyết.

Khi các nhà nghiên cứu phân chia thực phẩm tinh bột – đường thành 2 nhóm có chỉ số GI cao và thấp, và có sự khác biệt càng rõ. Những phụ nữ ăn nhiều thực phẩm có chỉ số GI cao có nguy cơ mắc bệnh tim cao gấp 2,25 lần so với người ăn ít nhất.

Việc hạn chế ăn những thực phẩm có chỉ số GI cao mang lại rất nhiều lợi ích. Đó là kiểm soát sự thèm ăn dễ dàng hơn, kiểm soát cân nặng tốt hơn, duy trì được năng lượng và cảm xúc, giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính như tiểu đường, bệnh tim và một số loại ung thư.

Nguồn: Sức khỏe- Đời sống.
Xem chi tiết…

Những biện pháp phòng chống ung thư hiệu quả



Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Dưới đây là những biện pháp phòng chống ung thư hiệu quả trong đó có ung thư khí quản mà bạn cần biết

Năm 2005, có đến 7,6 triệu người chết vì ung thư trong số 58 triệu người chết trên toàn thế giới. Có khoảng trên 70% bệnh nhân chết do ung thư thuộc các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Lý do là ở các nước này các nguồn lực dành cho phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư còn rất hạn chế hoặc thậm chí, tại một số nơi, hầu như không có gì.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự đoán con số người chết hằng năm do các bệnh ung thư sẽ tiếp tục tăng lên đến 9 triệu vào năm 2015 và 11,4 triệu vào năm 2030. Tuy nhiên, có rất nhiều cái chết như vậy có thể tránh được. Trên 40% tất cả các trường hợp ung thư có thể phòng ngừa thành công. Một số ung thư khác nếu được phát hiện sớm, có thể điều trị lành.

Các bệnh ung thư thường do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Không có một phương pháp riêng rẽ nào có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư. Tuy nhiên, chúng ta có thể giảm thiểu được những yếu tố nguy cơ làm phát sinh căn bệnh nguy hiểm này.

Giảm ăn thịt
Mỗi ngày không nên ăn quá 30 đến 90 g thịt. Chú ý giảm các loại thịt màu đỏ như thịt bò, thịt heo, thịt cừu, thịt dê. Cá là loại thực phẩm được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng. Cũng nên chú ý đến chất lượng thịt. Thịt càng ôi thiu thì khả năng gây bệnh càng lớn. Cách chế biến cũng rất quan trọng. Không nên sử dụng quá nhiều thịt nướng, thịt chiên rán quá nóng, quá chín.

Không hút thuốc lá
Thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi . Chỉ riêng ở Đức, mỗi năm có đến 40.000 người chết vì căn bệnh này. Nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc ung thư phổi, chúng ta cần phải tạo dựng nên một môi trường không có khói thuốc lá. Những người đang hút thuốc lá nếu từ bỏ thói quen tai hại này ngay ngày hôm nay thì giảm được 80% nguy cơ ung thư phổi do thuốc lá trong 5 năm tới.

Uống rượu ít lại:

Những người uống nhiều rượu có nguy cơ mắc ung thư khoang miệng, ung thư hầu, ung thư thanh quản và ung thư thực quản. Các chuyên gia khuyên rằng mỗi ngày không nên uống quá 0,3 lít rượu vang (với phụ nữ là 0,2 lít) hoặc không quá 0,75 lít bia (với phụ nữ là 0,5 lít). Trong mỗi tuần, nên có hai ngày hoàn toàn không uống thức uống chứa cồn.

Ăn nhiều rau xanh và trái cây:

Rau xanh và trái cây có tác dụng làm giảm nguy cơ gây ung thư các loại. Không nên chỉ ăn một loại rau hoặc trái cây nhất định nào đó. Nếu bữa ăn càng nhiều màu sắc khác nhau thì tác dụng phòng ngừa ung thư càng cao. Người nào hằng ngày đều có sử dụng các loại rau quả có màu xanh, đỏ, vàng thì người đó càng có cơ may giảm thiểu được nguy cơ ung thư. Nước ép trái cây tươi cũng có tác dụng tốt.

Giữ không để tăng cân:

Thừa cân, béo phì là một yếu tố nguy cơ của ung thư. Những người thường xuyên vận động, luyện tập thể thao thì càng làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Viện Nghiên cứu ung thư quốc gia Mỹ khuyến cáo mỗi ngày nên luyện tập thể thao ít nhất 30 phút.

Tránh ánh nắng gay gắt:

Ung thư da ngày càng trở nên thường gặp hơn, do vậy cần phải tránh để ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp trong một thời gian dài, nhất là vào buổi trưa. Không nên tắm nắng buổi trưa và khi tắm nắng cần phải có kem chống nắng bảo đảm chất lượng.

Phòng chống các bệnh nhiễm trùng:


Theo thống kê năm 2005 của WHO, ung thư gan là nguyên nhân gây tử vong thường gặp ở người Việt Nam: đứng hàng thứ ba ở nam giới và đứng hàng thứ sáu ở nữ giới. Viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Việt Nam là nước có mức độ lưu hành dịch cao. Do vậy chủng ngừa viêm gan B cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ gây ung thư gan.

Một số chủng virus gây u nhú ở người (HPV) có thể gây nên ung thư cổ tử cung. Hiện nay các công ty dược phẩm đang đưa vào thị trường các loại vắc-xin ngừa ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, các loại vắc-xin này cũng chỉ có thể phòng ngừa được một số chủng virus gây u nhú ở người có khả năng gây ung thư cổ tử cung, chứ không thể ngăn ngừa tất cả các ung thư cổ tử cung. Điều quan trọng là không nên sinh hoạt tình dục quá sớm, sinh hoạt tình dục với nhiều bạn tình khác nhau và có hành vi tình dục không an toàn.

Một điều đặc biệt đáng chú ý: ung thư dạ dày là loại ung thư gây tử vong nhiều nhất ở phụ nữ Việt Nam (theo số liệu thống kê năm 2005). Khoa học đã chứng minh mối liên quan nhân quả giữa nhiễm xoắn khuẩn helicobacter pylori và nguy cơ ung thư dạ dày. Để phòng ngừa nhiễm vi khuẩn này cần bảo đảm chế độ dinh dưỡng và môi trường sống hợp vệ sinh. Những bệnh nhân có triệu chứng bệnh dạ dày do helicobacter pylori, cần điều trị triệt để theo hướng dẫn chuyên khoa.

Nguồn: Sức khỏe

Xem chi tiết…

Phòng ngừa ung thư bằng phương pháp tự nhiên

Ung thư là một căn bệnh nguy hiểm, nhắc tới ung thư (trong đó có ung thư khí quản) người ta nghĩ ngay đến những “bản án tử hình”. Tuy nhiên, ung thư không phải không phòng ngừa được. Nếu biết cách, căn bệnh ung thư đáng sợ không phải là quá khó để ngăn ngừa.

 Phòng ngừa ung thư bằng phương pháp tự nhiên

Dưới đây là một số phương pháp phòng ngừa ung thư bằng phương pháp tự nhiên:

Không uống nước quá nóng: Thói quen uống trà, cà phê nóng bốc khói có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ gây ung thư vòm họng do nước nóng làm tổn thương đến các tế bào ở cơ quan này.

Nên ăn chuối: Theo một nghiên cứu của Viện Kardinska (Thụy Điển) trên 61.000 phụ nữ, những người ăn chuối 4-6 lần/tuần sẽ giảm được nửa nguy cơ ung thư gan so với những người không ăn. Đó là vì chuối giàu chất chống ôxy hóa fenolics, giúp chống ung thư.

Một số loại rau củ khác như cà rốt, củ cải cũng có những tác dụng tương tự.

Nên ăn nghệ: Các nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, bột nghệ chứa hoạt chất curcumin giúp ngăn ngừa các tế bào ung thư vú phát tán. Curcumin và phenethyl isothiocyanate (PEITC), một chất tự nhiên có trong nghệ và rau họ cải, làm chậm sự phát triển của các tế bào ung thư tuyến tiền liệt.

Tập thể dục 30 phút/ngày: Thể dục nhẹ nhàng khoảng 30 phút mỗi ngày và ít nhất 5 ngày/tuần là chiến thuật chính bảo vệ bạn khỏi ung thư. Theo một nghiên cứu tại Scotland, thể dục làm giảm một nửa khả năng nhiễm ung thư ruột kết.

Phụ nữ tập thể dục thường xuyên có thể giảm được 1/3 nguy cơ ung thư nhờ điều hòa mức hoóc môn có liên quan đến sự phát triển bệnh này, thay đổi tốc độ tiêu hóa thức ăn trong ruột.

Cắt giảm mỡ thừa: Khi bạn béo hoặc thừa cân so với chuẩn trọng lượng (BMI), bạn có nguy cơ nhiễm các loại ung thư dạ dày, gan, thận và thực quản, ung thư tử cung, buồng trứng và ung thư vú sau thời mãn kinh. Béo phì là một trong những nguyên nhân lớn nhất gây ung thư đối với những người không hút thuốc lá. Hãy cố đạt mức chuẩn trọng lượng BMI dưới 25.

Ăn sốt cà chua: Trong cà chua có lycopene, một hoạt chất chống ôxy hóa có tác dụng ngăn nhiều loại ung thư. Chất này cũng được tìm thấy trong các loại quả ruột màu hồng như dưa hấu và nho hồng.
Sốt cà chua được xử lý nhiệt làm cơ thể dễ hấp thu lycopene hơn, điều này giải thích lý do nam giới ăn nhiều sốt cà chua, pizza, pasta có tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt thấp.

Theo dõi thói quen đại tiện: Thói quen này có thể giúp bạn nhận thấy những dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư đường ruột. Bất kỳ ai trên 50 tuổi có biểu hiện đại tiện bất thường kéo dài trong 4-6 tuần, có ra máu hoặc đau bụng đều nên đến cơ sở y tế kiểm tra chứ không nên tự ý dùng thuốc.

Tận hưởng ánh nắng mặt trời: Nên để da tiếp nhận vitamin D hằng ngày một cách tự nhiên dưới ánh nắng ban mai để giảm 1/2 nguy cơ ung thư vú, ruột kết và buồng trứng. Việc đi dạo 10-15 phút trong ánh nắng nhẹ vài ngày trong tuần cũng tương đương với việc uống 400 mg vitamin D mỗi ngày. Tuy nhiên, cần tránh ánh nắng mặt trời từ 11 giờ sáng đến 3 giờ chiều; hoặc xoa kem chống nắng.

Kiểm soát lượng protein: Thịt đỏ như thịt bò, lợn, cừu và các sản phẩm thịt đã qua chế biến công nghiệp (xúc xích, thịt hun khói …) sẽ làm tăng nguy cơ ung thư ruột. Các loại thịt trên kích thích quá trình sản xuất hợp chất N-nitroso (NOCs) – nguyên nhân gây ung thư trong động vật.

Hấp rau xanh: Súp lơ xanh, giá, súp lơ trắng, bắp cải, củ cải rất giàu hoạt chất chống ung thư sulforaphane, có tác dụng kích hoạt enzyme trong gan để diệt các hoạt chất gây ung thư. Cách chế biến tốt nhất là hấp rau vì sulforaphane được giữ lại nhiều nhất khi nấu trong vòng 10 phút ở nhiệt độ 60 độ C, hoặc hấp trong vòng 4 phút đủ chín vừa.

Không uống rượu say: Đồ uống có cồn làm tăng nguy cơ ung thư họng, gia tăng hàm lượng oestrogen gây ung thư vú.

Theo dõi những biến chuyển trên da : Những thay đổi ở nốt ruồi, tàn nhang, sẹo có thể là dấu hiệu của ung thư da, vì vậy bạn nên kiểm tra toàn thân thường xuyên, trong đó đặc biệt chú ý đến vùng da dưới vú, lưng, da đầu, móng tay, ngón tay. Thường xuyên quan sát đôi chân (nơi ung thư da thường xuất hiện ở phụ nữ) và nhờ người khác kiểm tra lưng, thân, đầu, cổ.

Chọn bác sỹ già: Một nghiên cứu của Đại học California cho thấy các bác sĩ già với ít nhất 25 năm kinh nghiệm có khả năng phát hiện ung thư chính xác hơn và thường đưa ra nhận xét ít sai hơn. Vì vậy nếu bạn cần tư vấn, hãy đến với bác sỹ đã tốt nghiệp y khoa trước những năm 1990.

Hạ nhiệt lò nướng: Nướng thịt (thay vì rán) giúp giảm lượng calories trong thịt, nhưng nướng ở nhiệt độ cao trong thời gian dài sẽ sinh ra hợp chất heterocyclic amines (HCAs), có khả năng gây hại cho DNA, làm thay đổi cấu trúc tế bào và tăng khả năng ung thư. Vì vậy khi nướng thịt nên để nhỏ lửa như om.

Ướp thịt trước khi nướng để làm giảm đáng kể hàm lượng HCAs trong thịt. Việc lật thường xuyên cũng làm giảm khả năng hình thành HCAs.

Thường xuyên ăn tỏi: Giúp phòng chống ung thư nhờ chất allyl sulphur. Nhưng việc nấu tỏi ở nhiệt độ cao lại làm giảm khả năng này.

Bỏ hút thuốc: Khói thuốc có trên 60 chất sinh ung thư. Nhưng nếu ngừng hút hẳn, bạn có khả năng giảm được 1/2 nguy cơ ung thư phổi và giảm dần nguy cơ ung thư họng, thực quản, bàn quang, thận và tuyến tụy.

Thường xuyên kiểm tra sức khỏe : Nếu bạn dưới 49 tuổi nên kiểm tra kính phết cổ tử cung sau mỗi 3 năm, và nếu bạn ở độ tuổi 50-64 thì nên kiểm tra định kỳ 5 năm/lần. Chụp X-quang vú để kiểm tra ung thư vú định kỳ 3 năm/lần trong độ tuổi 50-70.

Thường xuyên đi khám răng: Giúp nhận ra những dấu hiệu sớm của ung thư miệng. Hãy đi khám ngay nếu bạn có một trong những triệu chứng sau trong vòng 3 tuần không giảm: sưng nhưng không đau, hoặc nổi u trong miệng, đau họng hoặc khó nuốt.

Thận trọng với thực phẩm tăng đường máu: Nên cảnh giác với thức ăn có chỉ số GL cao (GL là một chỉ tiêu đo tốc độ tăng lượng đường trong máu). Đó là bánh mỳ trắng, pasta, khoai tây chiên, khoai tây, bánh quy, bánh ngọt làm thải ra insuline gây ung thư. Nên ăn thực phẩm GL thấp như đậu, trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt.

Nguồn: sưu tầm.
Xem chi tiết…

Trợ thủ của thuốc chống ung thư

Theo nghiên cứu vừa công bố trên chuyên san Cancer Research của các nhà khoa học thuộc trường Georgia Health Sciences University (GHSU - Mỹ), hoạt chất verticillin A có khả năng tăng cường hiệu quả của một số liệu pháp chống ung thư.

Các nhà khoa học của Georgia Health Sciences University đã mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc chữa trị bệnh ung thư ( trong đó có ung thư khí quản).
Verticillin A được chiết xuất từ một loại nấm độc mọc nhiều tại các khu rừng ở tây nam Trung Quốc và được khám phá lần đầu tiên tại Trung tâm nghiên cứu của Đại học Chiết Giang. Theo tiến sĩ Kebin Liu, Trưởng nhóm nghiên cứu của GHSU, verticillin A có thể ngăn cản các tế bào ung thư kháng lại các phương pháp đặc trị như cytokine Trail (protein có khả năng kích thích miễn dịch và làm các tế bào ung thư tự hủy hoại).

Hiện nay, tình trạng kháng thuốc là nguyên nhân chủ yếu khiến cho việc điều trị bệnh nhân ung thư di căn gặp thất bại. Tiến sĩ Liu nhận định: “Nếu làm các loại thuốc trở nên hiệu quả hơn sẽ giúp duy trì sức khỏe bệnh nhân được lâu hơn”. Còn theo chuyên gia về giải phẫu học tế bào Wendy Bollag, theo thời gian, phần lớn tế bào ung thư sẽ tìm được biện pháp để chống chọi lại các dược chất.

Verticillin A ngăn cản các tế bào ung thư vô hiệu hóa chức năng của gien BNIP3 (kích hoạt quá trình tự hủy hoại của khối u). Thí nghiệm trên chuột cho thấy verticillin A cũng có khả năng hủy hoại trực tiếp các tế bào ung thư. Nhưng do có độc tính cao, hoạt chất này sẽ gây nên phản ứng phụ khá mạnh. Tuy nhiên, khi dùng với liều lượng nhỏ và được áp dụng song song với cytokine Trail, phản ứng phụ được hạn chế đáng kể trong khi hiệu quả điều trị tăng cao. Verticillin A cũng có công dụng tương tự khi được dùng kèm với một số liệu pháp chống ung thư khác. Các nhà nghiên cứu đang tăng cường thử nghiệm hoạt chất này trên nhiều dạng ung thư với hy vọng trong tương lai sẽ có thể áp dụng lên điều trị lâm sàng.

Nguồn: kien thuc
Xem chi tiết…