Bị viêm khí quản nên ăn uống như thế nào

Do vấn đề về thời tiết có những sự thay đổi đột ngột, dẫn đến bệnh lý viêm khí quản thường gặp, hoặc do cảm lạnh, hút thuốc lá, hít phải nhiều bụi ...
Bên cạnh việc sử dụng thuốc điều trị thì ngoài ra việc ăn uống ra sao để tăng hiệu quả chữa bệnh cũng là một điều khá quan trọng

an-uong-khi-viem-khi-quan

Cháo rau diếp cá: Diếp cá 30g, gạo lức 50g. Rửa sạch diếp cá, đổ nước vừa đủ, đun sôi cho gạo đã đãi sạch vào nấu thành cháo. Ăn nóng, ngày 2 lần, cứ 10 ngày là một liệu trình.

Cháo thịt ngỗng: Thịt ức ngỗng 100g, nấm mèo 25g, thịt chân giò chín 15g, hành 5g, gừng tươi 5g, rượu 10g, muối tinh 7g, bột ngọt 2g, dầu thơm vani 25g, nước luộc thịt ngỗng 1 lít, tiêu bột 2g, gạo nếp 100g. Cắt nhỏ thịt ức ngỗng như hạt gạo, nấm, thịt chân giò cũng cắt nhỏ như hạt lựu, gạo nếp đãi sạch cho vào nồi đất, cho nước thịt ngỗng vào nấu, đến khi gạo nở thì cho thịt ngỗng và các thứ vào nấu thành cháo đặc mới cho dầu thơm vani, rắc bột tiêu vào là được. Ngày ăn 1 bát, chia 2 - 3 lần ăn.
Cháo trai: Trai khô 25g, thịt gà 50g, rượu 15g, nấm mèo 50g, muối tinh 5g, mỡ lợn 25g, gạo te 100g, gừng, hành, bột tiêu vừa đủ. Các thứ làm sạch, chế biến xong cho gạo vào nồi với trai khô, thịt gà, nước 1,5 lít nấu thành cháo. Cháo chín cho mỡ lợn, muối, gừng, hành, hạt tiêu vào, đun qua, quấy đều là được. Ngày ăn 1 bát chia 2 lần.

Cháo lê: Quả lê 500g, ý dĩ nhân 100g, đường phèn 100g. Rửa sạch ý dĩ nhân, ngâm nước, vớt ra để ráo. Lê bỏ hạt, cắt thành quân cờ, cho cả ba thứ vào nồi với 1 lít nước nấu thành cháo. Ngày ăn 1 bát chia 2 lần ăn lúc nóng.

Cháo gừng tươi, sơn trà: Lá sơn trà 15g, gừng tươi 15g, gạo lức 100g, dầu vani, muối vừa đủ. Gạo đãi sạch, gừng thái lát, cho cùng lá sơn trà với nước vừa đủ đun thành cháo rồi cho dầu vani, bột ngọt là được. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo vỏ quýt: Vỏ quýt tươi 30g, gạo lức 50 - 100g. Rửa sạch vỏ quýt, đổ nước vừa đủ, nấu lấy nước, bỏ bã rồi cho gạo đã vo sạch, nấu cháo loãng. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo đình lịch tử (hạt đay): Hạt đay 10g, gạo lức 100g. Sao hạt đay đến khi thơm, để nguội, cho nước đun cô đặc, bỏ bã, cho gạo đã vo sạch, thêm nước vừa đủ, nấu cháo. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo hạt mã đề: Hạt mã đề 15g, gạo lức 50g. Dùng vải bọc hạt mã đề, cho vào nồi đất, cho thêm 200ml nước, nấu còn 100ml, bỏ túi thuốc, cho gạo đã đãi sạch, thêm 400ml nước nấu cháo loãng. Ngày ăn 2 lần lúc cháo nóng.

Canh cá diếc, hạnh nhân: Cá diếc 1 con, hạnh nhân 10g, đường đỏ vừa đủ. Làm sạch cá diếc cho vào nồi cùng hạnh nhân và đường. Dùng nồi đất, nước vừa đủ đun chín nhừ là được. Ăn cá, uống canh.

Canh bách hợp: Bách hợp 100g, đường trắng 50g. Rửa sạch bách hợp cho vào nồi cùng đường trắng, nước vừa đủ, đun khoảng 1 giờ thấy chín nhừ là được. Ăn trong ngày. Tác dụng: bổ âm, dưỡng phế, bổ tâm, trừ phiền.

Canh cải nấu đậu phụ, táo tàu: Cải trắng khô 100g, đậu phụ 50g, táo tàu 10 quả, dầu thực vật, muối tinh vừa đủ. Các thứ chế biến rửa sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, ninh chín, cho dầu, muối vào là được. Ăn kèm trong bữa ăn.

Canh phổi lợn nấu lá chanh: Lá chanh 15g, phổi lợn 150 - 200g. Rửa sạch, cho hai thứ vào nồi, đổ nước vừa đủ đun chín thì cho gia vị là được. Ăn phổi, uống canh.

Canh hải sâm, ngân nhĩ: Ngân nhĩ 10g, hải sâm ngâm nở 150g, nước 1lít, rượu trắng, muối, bột ngọt vừa đủ. Cho ngân nhĩ cùng hải sâm vào nồi, cho nước đun sôi một lúc rồi vớt ra để ráo nước. Dùng một nồi khác đổ 250ml nước và rượu, muối, bột ngọt cùng ngân nhĩ, hải sâm vào, đun sôi thì đun nhỏ lửa khoảng 1 giờ, múc ra vài bát nhỏ. Lại đổ 750ml nước vào nồi khác, cho rượu, bột ngọt, đun sôi, hớt bọt rồi múc vào bát đựng ngân nhĩ, hải sâm. Ăn trong ngày.

Chè bách hợp, mã thầy: Bách hợp 15g, mã thầy 10g, tuyết lê 1 quả, đường phèn vừa đủ. Mã thầy bóc vỏ giã nát; lê gọt vỏ, bỏ lõi, thái nhỏ. Tất cả 4 thứ cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, đun to lửa tới sôi, chuyển đun nhỏ lửa tới khi đặc sánh là được. Uống trong ngày tùy ý.

Nước táo, cam thảo: Táo tàu 8 quả, cam thảo tươi 6g. Hai thứ rửa sạch, cho vào nồi, đổ nước 800ml, đun nhỏ lửa còn 400ml, vớt bỏ bã. Uống hằng ngày.
Xem chi tiết…

Dấu hiệu bệnh viêm thanh khí phế quản ở trẻ nhỏ

Bệnh viêm thanh khí phế quản cấp, (trong y khoa còn gọi là Croup). Đây là một bệnh lý viêm nhiễm cấp tính vùng hạ thanh môn do siêu vi trùng, làm cho bé bị thở rít, khàn tiếng hay ho khan.

be-bi-ho
Bé bị ho (ảnh minh họa)

Những trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp thường khởi đầu bằng những triệu chứng của cảm như ho, sổ mũi, sốt nhẹ, sau đó 1 – 3 ngày bắt đầu có triệu chứng khàn giọng, khó thở, thở rít, nhất là vào lúc thời tiết trở lạnh như giữa đêm. Lứa tuổi thường mắc phải bệnh này là dưới 5 tuổi, do đường thở hẹp nên khi viêm nhiễm gây phù nề làm cho đường dẫn khí càng trở nên chít hẹp hơn, gây nên triệu chứng khó thở.

Nhận diện viêm thanh khí phế quản cấp

Có thể nhận biết trẻ có bị viêm thanh khí phế quản cấp hay không bằng cách dựa vào các triệu chứng điển hình của bệnh như:

- Tiếng thở rít thì hít vào: bạn quan sát trẻ thở sẽ thấy mỗi lần hít vào trẻ phát ra âm thanh như tiếng rít, nghe thô ráp.

- Ho khan

- Khàn tiếng

- Khó thở, mức độ khó thở nhiều hay ít sẽ tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

Nhận diện các dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đi bệnh viện ngay:

Cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất ngay khi có một trong các dấu hiệu sau đây:

- Thở nhanh, có thể xác định bằng cách đếm nhịp thở của trẻ thấy ≥ 50 nhịp/ phút

- Khó ngủ, bứt rứt và đổ mồ hôi

- Màu môi trở nên tái nhợt

- Phần mô cơ ở 2 bên cổ hay ở giữa các xương sườn lõm xuống mỗi khi trẻ cố gắng hít thở

Một điều cần lưu ý là các triệu chứng của viêm thanh khí phế quản cấp có thể trùng lắp với một số bệnh cảnh khác như dị vật đường thở, viêm nắp thanh môn, vì vậy cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện khi thấy có các biểu hiện: sốt cao, thở mệt, khò khè nhất là khi thở ra, khó nuốt hoặc đột ngột ho sặc sụa

Chăm sóc trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp tại nhà

Không phải tất cả trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp đều phải nhập viện điều trị. Nếu trẻ không có các dấu hiệu nguy hiểm đã nêu và tiếng thở rít chỉ xuất hiện khi khóc thì trẻ vẫn có thể điều trị ngoại trú tại nhà và tái khám theo lịch hẹn. Khi đó, cần lưu ý chăm sóc trẻ tại nhà theo hướng dẫn sau:

- Thường xuyên cho trẻ uống nước

- Nếu trẻ sốt cao hoặc đau họng, có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt và giảm ho

Tăng độ ẩm trong không khí có thể sẽ làm trẻ cảm thấy dễ chịu hơn. Bạn có thể đặt trẻ trong bồn tắm nước ấm hoặc dùng vòi hoa sen, và dĩ nhiên là bạn phải luôn luôn để mắt đến trẻ.

BS Như Huỳnh
Xem chi tiết…

Tìm hiểu nguyên nhân gây ho có đờm và sốt kéo dài


ho_co_dom
Ba tôi bị ho và sốt kéo dài nhiều ngày. Ho có đờm và thường  sốt về chiều ba tôi có uống kháng sinh liều cao, uống thuốc giảm sốt, đã chụp phổi bác sĩ nói bình thường , amedan hơi sưng, viêm khí -phê quản mãn tính.Bác sĩ có thể cho tôi biết nguyên nhân được không?

Trả lời: 
Ho thường do những bệnh của đường hô hấp, nhưng cũng có khi ho do bệnh ở ngoài đường hô hấp, mời bạn tham khảo các triệu chứng đi kèm với các tiệu chứng đó là các bệnh sau:

Ho do viêm họng cấp: Ho có đờm hoặc ho khan, sốt cao, có khi không sốt. Nuốt vướng, có cảm giác rát họng. Họng đỏ, có hạt hoặc có mủ. Amidan có thể sưng.

Viêm thanh quản: Ho khan. Nói khàn hoặc mất tiếng. Bệnh bạch hầu thanh quản tiếng ho ông ổng. Thể trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Có màng trắng ở họng, gây khó thở, nhiều khi phải mở khí quản.

Viêm khí quản, phế quản cấp: Sốt cao, giai đoạn đầu ho khan, giai đoạn sau có đờm. Đờm đặc hoặc loãng, màu trắng hoặc vàng. Điều trị sớm sẽ mau khỏi.

Viêm phế quản mạn: Thường gặp ở người hút thuốc lá (75%). Ho có nhiều đờm, mỗi năm ho khạc 3 tháng, trong vòng hai năm liền. Bệnh hay tái phát do những đợt bội nhiễm hoặc tiếp xúc với các tác nhân gây viêm như không khí lạnh, độ ẩm cao, hít phải hơi độc.

Giãn phế quản: Ho nhiều về buổi sáng, có rất nhiều đờm. Để đờm vào cốc, thấy lắng thành 3 lớp: dưới là mủ, giữa là chất nhày, lớp trên cùng là bọt lẫn dịch. Giãn phế quản có khi ho ra máu. Hay tái phát do đợt bội nhiễm.

Hen phế quản: Thường gặp ở lứa tuổi trẻ và trung niên. Người bệnh không sốt. Khó thở từng cơn, cơn hay gặp về ban đêm, trong lúc khó thở thấy tiếng rít cò cử. Sau cơn bệnh nhân ho và khạc ra nhiều đờm trắng, loãng. Hay tái phát nhiều lần do bội nhiễm, khi đó thì đờm có màu vàng.

Viêm phổi: Sốt cao, rét run, đau ngực, ho có đờm quánh, dính, màu rỉ sắt. Bạch cầu trong máu tăng cao. Chụp Xquang phổi có hình ảnh viêm phổi.

Lao phổi: Sốt hâm hấp về chiều, người gầy, sút cân, chán ăn. Ho dai dẳng, ra đờm đặc, có khi lẫn máu hoặc ho ra máu tươi. Tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm.

Áp-xe phổi: Sốt cao, đau ngực. Ho khan hoặc có đờm. Khi ổ áp-xe vỡ thông vào phế quản thì ho ra nhiều đờm như mủ, mùi tanh hoặc rất thối.

Bệnh bụi phổi: Gặp ở người tiếp xúc với bụi ở công trường, hầm mỏ, làm đường, công nhân nhà máy dệt, may, xi-măng... Bệnh nhân ho kéo dài, ra đờm màu đen, đục. Những đợt bội nhiễm thì ho tăng hơn. Bệnh kéo dài, ảnh hưởng đến toàn thân.

Bệnh màng phổi: Viêm màng phổi có dịch, ho do màng phổi bị kích thích, ho khi thay đổi tư thế.

Ung thư phế quản: Gặp ở người già, người hút thuốc lá. Người bệnh gầy sút nhanh, ăn uống kém, đau ngực, ho ra máu. U chèn ép nhiều gây khó thở, xẹp phổi. Cần phải chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực để xác định.

Về điều trị: Việc quan trọng là phải điều trị nguyên nhân, nhưng điều trị triệu chứng ho và làm cho đờm thoát ra ngoài lại rất cần thiết. Thuốc ho có nhiều loại: thuốc có tác dụng trên trung ương (trung tâm hô hấp như: dextromethorphan, mocphin, codein) và các thuốc làm tan đờm, lỏng đờm (tecpin). Tuy nhiên các thuốc này cũng có những tác dụng phụ hoặc tai biến. Các thuốc trung ương gây ức chế trung tâm hô hấp, không nên dùng cho người già, trẻ em, người có viêm phế quản mạn tính, đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính người suy hô hấp. Thuốc codein không dùng cho người táo bón và thận trọng cho người bị hen, v.v... Tùy theo từng trường hợp ho cụ thể mà các bác sĩ sẽ có quyết định.

Tóm lại, thuốc ho phải dùng với liều lượng tối thiểu, cần dùng đúng liều cho trẻ em, người cao tuổi, phải phối hợp với điều trị bệnh chính. Chú ý không được tự ý dùng một cách tùy tiện, mà phải có sự chỉ định của bác sĩ.


Chúc bạn và gia đình sức khỏe!
Xem chi tiết…

Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ MRI trong chẩn đoán ung thư khí quản



Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hay còn gọi là mri là kỹ thuật hình ảnh sử dụng từ trường và sóng tần số radio để ghi hình một cách chi tiết các cấu trúc bên trong của cơ thể và cho hình ảnh chất lượng cao với độ phân giải và tương phản tốt để cho các bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh lý một cách chính xác

MRI có thể được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân để quan sát lượng nước bên trong các cấu trúc bên tỏng của cơ thể. Ảnh cộng hưởng từ hạt nhân dựa trên một hiện tượng vật lý đó là hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân. Đây là một kỹ thuật chẩn đoán y khoa tạo ra hình ảnh giải phẩu của cơ thể nhờ sử dụng từ trường và sóng radio MRI đã được ứng dụng vào Việt Nam từ năm 1996 , các thế hệ máy lúc đó hoạt động rất chậm nhiều khi phải mất cả tiếng đồng hồ nhưng cho đến nay, sau nhiều cải tiến thì phương pháp MRI này đã có tốc độ cải thiện hơn rất nhiều (chụp toàn thân trong 15-30 phút).
MRI có thể sử dụng để kiểm tra gần như mọi cơ quan trong cơ thể. Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị trong việc chụp ảnh chi tiết não hoặc dây cột sống u khí quản.....

MRI có thể đem lại những hình ảnh 3 chiều, bác sĩ có thể nắm được thông tin về địa điểm, những thương tổn, những thông tin như vậy rất có giá trước khi phẫu thuật chẳng hạn như tiểu phẫu não.

Chuẩn bị

Bệnh nhân (BN)có thể ăn uống như bình thường.

Mang theo các phim ảnh đã chụp trước kia (như Xquang, siêu âm, MRI, CT) kèm theo kết quả, giúp bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đánh giá tình trạng của bạn.

Do trong quá trình chụp sẽ sử dụng từ trường mạnh nên tất cả các vật dụng bằng kim loại bệnh nhân đang mang (như răng giả, vòng tránh thai...) cần phải lấy ra trước khi vào phòng chụp MRI.

BN nữ được yêu cầu không trang điểm vùng mắt khi chụp MRI cho não vì có thể ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh.

Những trường hợp chống chỉ định

Chống chỉ định ở BN đang sử dụng máy điều hòa nhịp tim.

BN đang sử dụng cấy ốc tai không thể chụp MRI.

Những BN đang sử dụng các clip chữa phình mạch não, stent trong động mạch chủ, bơm truyền dịch và các thiết bị kích thích thần kinh... cũng không được thực hiện chụp MRI.

Chụp MRI thường không được chỉ định cho các trường hợp có thai dưới 3 tháng, trừ khi được chỉ định bởi bác sĩ giới thiệu hoặc bác sĩ chẩn đoán hình ảnh rằng chụp MRI là một thủ thuật y khoa cần thiết và lợi ích từ khảo sát này lớn hơn rủi ro. Điều này cũng có nghĩa là không có phương pháp kiểm tra nào khác có thể cho những thông tin tương tự như chụp MRI đối với trường hợp này.

Quy trình chụp MRI

• BN sẽ được cung cấp và đề nghị thay quần áo thoải mái, nằm lên bàn máy và được đưa vào khung máy. Phần cơ thể cần kiểm tra được chỉnh nằm chính giữa khoang máy. Một thiết bị, giống một cuộn dây, giúp nâng cao chất lượng hình ảnh, có thể sẽ được đặt lên trên vùng cần kiểm tra.

• Bạn sẽ biết quá trình chụp đang được thực hiện khi nghe tiếng rung. Điều quan trọng nhất là bạn cần phải nằm im tuyệt đối. Cử động sẽ làm hình ảnh cần chụp bị mờ. Thông thường, có bốn hoặc năm hình thức chụp MRI và mỗi loại mất khoảng 2-8 phút để hoàn thành. Toàn bộ quy trình thực hiện khoảng 20 phút.

Chất tương phản (Gadolinium)

Một số BN chụp MRI có thể cần phải được tiêm chất tương phản (Gadolinium ) vào tĩnh mạch, giúp nhìn thấy các thương tổn rõ hơn trên hình ảnh MRI, nâng cao độ chính xác của khảo sát và phát hiện nhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư. Chất tương phản này không phải là chất phóng xạ.

Hầu hết các trường hợp tiêm chất tương phản đều không có biến chứng. Tương tự như các thủ thuật y khoa khác, có những rủi ro gắn với việc đưa bất kì chất gì vào cơ thể, bao gồm cả chất tương phản. Khi chất tương phản được tiêm vào cơ thể, bạn sẽ cảm thấy mát lạnh và cảm giác thuốc đang lan tỏa trong vòng một hai phút và điều đó hoàn toàn bình thường. Một số BN có thể cảm thấy vị the lạnh trong miệng hoặc số ít BN có tác dụng phụ như buồn nôn và đau cục bộ. Rất hiếm BN bị dị ứng với chất tương phản và có thể bị phát ban, ngứa mắt hoặc một vài phản ứng khác. Nếu có triệu chứng dị ứng, hãy thông báo ngay với kỹ thuật viên. Những phản ứng rất nhỏ này chỉ xảy ra đối với 0.05% các trường hợp.

Hiện nay, đã có ghi nhận về tình trạng xơ hóa hệ thống có nguồn gốc từ thận như là một biến chứng của chụp MRI. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm, nhiều khả năng xảy ra khi tiêm gadolinium liều cao cho BN bị suy thận nặng.
Đáng nói, không có cách nào để biết được ai bị dị ứng với chất tương phản cho đến khi được tiêm vào cơ thể.
Xem chi tiết…

Nội thông khí quản và những điều cần biết


Khi nào phải nội thông khí quản ?

Mở các đường hô hấp trên trong trường hợp tắc (phù, khối u, bệnh lý thanh quản) ;
bảo vệ các đường dẫn khí đối với sự hít dich dạ dày (hôn mê, ngộ độc thuốc, bệnh thần kinh-cơ) ;
vệ sinh phế quản trong trường hợp ứ tiết quan trọng (làm dễ hút khí quản) ;
làm dễ sự thông khí cơ học (hay thất bại của thông khí không xâm nhập (VNI).

Quyết định nội thông khí quản thường khó khăn, bởi vì không có tiêu chuẩn tuyệt đối.

Ta xét đồng thời những tiêu chuẩn lâm sàng : trạng thái tinh thần, mức độ ứ tiết phế quản, tình trạng huyết động, những dấu hiệu mệt (cảm giác chủ quan của bệnh nhân, khó thở khách quan, sử dụng các cơ phụ...) và những dấu hiệu khí huyết động mạch.

Trong trường hợp suy bơm (pump failure), những tiêu chuẩn là PaCO2 và pH (nhiễm toan hô hấp với nhiễm toan huyết). Nhiễm toan huyết (acidémie) là một chỉ dấu đáng tin cậy hơn tăng thán huyết (hypercapnie). Trong trường hợp suy phổi (lung failure), điều quan trọng đó là mức độ nghiêm trọng của giảm oxy-huyết (hypoxémie).

Điều rất quan trọng là đánh giá tiến triển trong thời gian của các tham số lâm sàng và khí huyết này. Quyết định nội thông khí quản sẽ sớm hơn trong trường hợp tiến triển không thuận lợi.

Vài bệnh nhân vẫn tỉnh táo và cộng tác mặc dầu một pCO2 rất cao.

Những nhu cầu của một can thiệp ngoại khoa sắp xảy ra dĩ nhiên cũng có thể ảnh hưởng quyết định.

Đặc biệt ta cố gắng tránh nội thông khí quản trong hai trường hợp :

hiện tượng tạm thời, mà sự điều chỉnh có thể nhanh (thí dụ phù phổi huyết động, sử dụng morphinique quá mức.
bệnh lý của người bị suy giảm miễn dịch, ở bệnh nhân này nguy cơ nhiễm trùng rất là quan trọng.

Ngược lại, ta đo dự ít hơn trong những trường hợp sau đây :

tiến triển lâm sàng hướng về sự thoái biến.
choáng tuần hoàn hay suy tim nặng ;
vấn để thần kinh hay ngoại thần kinh (nguy cơ thoái biến quan trọng trong trường hợp giảm oxy huyết và/hoặc tăng thán huyết) ;
ngoại trừ hạn chế vì lý đó đạo đức ;
can thiệp ngoại khoa được dự kiến trong một thời gian ngắn.

ĐƯỜNG NỘI THÔNG KHÍ QUẢN

a/ Đường miệng được ưa thích hơn :

dễ thực hiện hơn lúc cấp cứu (phải luôn luôn được ưa thích hơn lúc cấp cứu, ngoại trừ trường hợp vỡ xương mặt) ;
cho phép đưa vào một ống nội thông khí quản tương đối lớn (0,5 đến 1mm lớn hơn bằng đường mũi).

b/ Đường mũi có thể có 3 ưu điểm :

đảm bảo một sự thoải mái hơn cho bệnh nhân.
làm dễ sự duy trì vệ sinh miệng ;
đảm bảo một sự cố định ống nội thông ổn định hơn.


Nhưng đường nội thông này tạo nhiều vấn đề :

đường kính của ống nội thông nhỏ hơn
nguy cơ xuất huyết khi nội thông ;
nguy cơ viêm xoang.

Vì những lý do này đường mũi hầu như bị bỏ.

Loại và kích thước của ống nội thông

Để giảm thiểu những thương tổn do nội thông khí quản, các ống nội thông khí quản có những ballonnet thể tích lớn và áp lực thấp khi được bơm phồng với lượng khí tối thiểu.

Ở trẻ em ống nội thông khí quản không có ballonnet.

Đường kính của ống phải lớn chừng nào có thể được để tránh những yếu tố cản khí (duy trì nhưng lưu lượng khí cao, ngăn cản tắc do các dịch tiết và làm dễ sự cai thông khí cơ học).

Những kích thước của ống nội thông khí quản là :

người trưởng thành : đường kính 8, 8,5 hay 9 mm tùy theo sự vạm vỡ của bệnh nhân ;
trẻ em : đường kính bằng đường kính của ngón tay út, hay được xác định bởi công thức : tuổi/4 + 4
Xem chi tiết…

Hẹp khí quản và những điều cần biết

khi_quan
Khí quản hẹp gồm hẹp subglottic, là bị hẹp hoặc co thắt khí quản. Hầu hết các trường hợp hẹp khí quản phát triển khi mô sẹo phát triển trong khí quản của một người do đặt nội khí quản kéo dài - khi một ống thở được chèn vào khí quản để giúp duy trì hơi thở trong một thủ tục y tế - hay từ một khí quản, mà là một phẫu thuật để tạo ra một mở ở cổ để truy cập vào khí quản.

Hẹp khí quản cũng có thể phát triển từ một số nguyên nhân khác, bao gồm: chấn thương bên ngoài để cổ họng; một khối u lành tính hoặc ác tính cách nhấn vào khí quản; rối loạn tự miễn dịch nhất định (polychondritis, sarcoidosis, papillomatosis, amyloidosis, và u hạt Wegener); và nhiễm trùng. Nó cũng có thể phát triển như là một tác dụng phụ khi điều trị phóng xạ được sử dụng để điều trị một khối u trong đầu hoặc cổ.

Các triệu chứng của bệnh hẹp khí quản có thể bao gồm:

  • Khó thở hoặc khó thở
  • Ho, đôi khi có máu (được gọi là ho ra máu)
  • Thở khò khè
  • Tím, một âm thanh the thé âm nhạc mà xảy ra như hơi thở được rút ra trong, mà là do sự tắc nghẽn trong đường hô hấp
  • Nhiễm trùng đường hô hấp thường xuyên hoặc tái phát
Bởi vì chứng hẹp khí quản có thể phát triển chậm, các dấu hiệu và triệu chứng sớm có thể bị nhầm lẫn với một số bệnh khác, bao gồm cả khó khăn để điều trị bệnh hen suyễn ở người lớn.
Xem chi tiết…

Điều trị ung thư khí quản như thế nào ?

tb_ungthu
Tế bào ung thư( Ảnh minh họa)
Các bác sĩ tại  Sinai của ENT / Head và Trung tâm Ung thư cổ có kinh nghiệm trong việc lựa chọn điều trị thích hợp cho bệnh nhân có khối u ác tính và khí -phế quản.

Điều trị bao gồm phẫu thuật hoặc điều trị bronchoscopic, một mình hoặc kết hợp với xạ trị. Phương pháp điều trị khác, bao gồm cả phương pháp điều trị và phẫu thuật bronchoscopic giảm nhẹ, có thể giúp khôi phục lại hơi thở và sự tiến triển của khối u chậm ở những bệnh nhân không phải là ứng cử viên cho phẫu thuật cắt bỏ khối u.Hóa trị , thường kết hợp với xạ trị, là một lựa chọn điều trị cho những bệnh nhân có tế bào vảy lớn khối u khí quản.

Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt bỏ khối u (cắt bỏ) là điều trị ưu tiên cho cả các khối u ác tính và lành tính giới hạn trong ít hơn một nửa của khí quản. Trong thủ tục này, bác sĩ phẫu thuật của bạn sẽ loại bỏ các khối u và một biên độ nhỏ (số tiền thêm) của mô lành xung quanh nó, sau đó kết nối các đầu của khí quản.
Phẫu thuật cắt bỏ khối u khí quản có thể phức tạp. Việc cung cấp máu đến khí quản là tinh tế và dễ dàng bị hư hỏng. Thiệt hại đối với việc cung cấp máu làm cho nó khó khăn hơn cho khí quản để chữa bệnh, làm tăng nguy cơ biến chứng. Núi Sinai Head và Phẫu thuật Trung tâm phẫu thuật cổ được huấn luyện đặc biệt trong kỹ thuật phẫu thuật để bảo tồn các nguồn cung cấp máu và giảm nguy cơ biến chứng, cải thiện cơ hội của một kết quả thành công.

Phương pháp điều trị Bronchoscopic

Bệnh nhân không phải là ứng cử viên cho giải phẫu có thể được hưởng lợi từ một số phương pháp điều trị có thể được cung cấp thông qua soi phế quản - một ống linh hoạt gắn liền với một máy ảnh nhỏ bé luồn qua miệng. Điều này thường được thực hiện kết hợp với soi phế quản cứng nhắc. Trong một số trường hợp,bronchoscopic phương pháp điều trị có thể làm giảm kích thước của khối u để nó có thể được phẫu thuật cắt bỏ.

Các phương pháp điều trị phổ biến nhất bao gồm bronchoscopic:

Mô khối u • Laser trị liệu. Đang bốc hơi với một chùm tia tập trung cao độ của ánh sáng để loại bỏ các khối u và mở các đường hàng không.

• Xịt phương pháp áp lạnh. Điều trị này liên quan đến việc áp dụng nitơ lỏng để các khối u, để vào tủ lạnh để các bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ nó. Phun áp lạnh cũng có thể được sử dụng để ngăn chặn chảy máu ở những bệnh nhân ho ra máu hoặc trong quá trình loại bỏ khối u bronchoscopic.

• Phương pháp gieo. Đây là loại xạ trị sử dụng phế quản để giúp hướng dẫn bức xạ trực tiếp vào chỗ khối u, giảm thiểu thiệt hại đến các mô lân cận lành mạnh. Phương pháp gieo có thể được lựa chọn khi bệnh nhân không đủ điều kiện để xạ trị bên ngoài chùm.

• Liệu pháp quang động. Một ánh sáng mạnh sẽ kích hoạt một loại hóa chất cảm quang được áp dụng cho các khối u, phá hủy mô bất thường khi gây thiệt hại tối thiểu cho các mô xung quanh.

• Argon chùm đông máu. Tương tự như điều trị bằng laser, điều trị này sử dụng điện và khí argon trong sự kết hợp với các phương pháp điều trị khác để giết bronchoscopic mô khối u.

• Coring cứng. Thủ tục giảm nhẹ này bao gồm chèn soi phế quản cứng nhắc vào khí quản và đẩy nó qua trung tâm của khối u để mở đường thở. Coring cứng nhắc, mà thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp điều trị bronchoscopic khác, có thể có hiệu quả cao.

Khối u ở đường dẫn khí lớn có thể được quản lý với các kỹ thuật tương tự, bao gồm cả phẫu thuật cắt bỏ, vị trí stent đường hàng không, và phương pháp điều trị bronchoscopic.

Xạ trị

Xạ trị có thể được sử dụng để:
Bệnh nhân điều trị ung thư có liên quan đến hơn 50 phần trăm của khí quản
Bệnh nhân điều trị mà khối u đã lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các khu vực khác trong ngực
Bệnh nhân điều trị, sức khỏe yếu hơn bình thường
Dùng cho bệnh nhân có u nang VA, những người có thể được điều trị bằng xạ trị đơn thuần hoặc sau khi phẫu thuật.

Bức xạ bên ngoài chùm , trong đó một chùm bức xạ được phân phối từ một nguồn bên ngoài để các trang web khối u, là loại chính của xạ trị được sử dụng để điều trị bệnh nhân có khối u khí quản. Brachyterhapy - một hình thức bản địa của xạ trị - có thể được sử dụng để điều trị bệnh nhân không phải là ứng cử viên cho xạ trị bên ngoài chùm.

Nguồn: mountsinai.org
Xem chi tiết…