Cách chọn ống nội khí quản trong nhi khoa

Ống nội khí quản (ảnh minh họa)

1. Các loại ống NKQ:

- NKQ có bóng chèn: Sử dụng cho trẻ trên 8 tuổi và người lớn.

- NKQ không có bóng chèn: Dùng cho trẻ < 8 tuổi. Trẻ dưới tuổi này có chỗ hẹp giải phẫu bình thường ở mức sụn nhẫn, cung cấp một bóng chèn chức năng. Không sử dụng bóng chèn ở tuổi này trong mọi tình huống. Ống NKQ có bóng chèn nhỏ hiện sẵn có cho những trẻ nhỏ cần áp lực hít vào cao như suyễn nặng hay hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS).

Ống nội khí quản có bóng chèn và không có bóng chèn.

2. Kích thước ống NKQ:

Dựa vào đường kính trong (Internal Diameter: ID):

- Sơ sinh:

+ < 1000 g: 2.5

+ 1000 – 2000 g: 3.0

+ 2000 – 3000 g: 3.5

+ > 3500 g: 3.5 – 4.0

- < 6 tháng: 3.5 – 4.0

- 6 – 12 tháng: 4.0 – 4.5

- 12 – 24 tháng: 4.5 – 5.0

- > 24 tháng: ID = 4 + tuổi/4.

Dựa vào đường kính ngoài: Ước tính bằng ngón tay út của bệnh nhân.

3. Độ dài ống NKQ sau khi đặt:

- Tuổi/2 + 12 cm: Nếu đặt đường miệng.

- Tuổi/2 + 15 cm: Nếu đặt đường mũi.

- Có thể ước lượng nhanh: Chiều dài = ID x 3.

Nguồn: Thực hành lâm sàng Nhi khoa - Bộ môn Nhi - ĐHYD TPHCM.
Xem chi tiết…

Phẫu thuật thành công ca bệnh ung thư khí quản ngực

Chiều 16-2, Bệnh viện Đà Nẵng cho biết, các bác sĩ Khoa Tiết niệu-Lồng ngực của BV đã phẫu thuật thành công ca bệnh ung thư khí quản ngực.

Hiện tại sức khỏe bệnh nhân Huế đã ổn định bình thường, chờ ngày xuất viện.

Hiện tại sức khỏe bệnh nhân Huế đã ổn định bình thường, chờ ngày xuất viện.

Trước đó, ngày 5-2, bà Trần Thị Huế (75 tuổi, trú xã Hòa Bắc, H. Hòa Vang, TP Đà Nẵng) nhập viện với các triệu chứng: ho ra máu, khó thở.

Tiến hành chụp CT Scanner ngực và nội soi phế quản, các bác sĩ phát hiện khối u trong lòng khí quản, bít gần hoàn toàn khí quản. Bệnh nhân được hội chẩn và mổ cấp cứu, mở ngực, mở khí quản ngực, cắt u. Sau hơn 1 giờ, Thạc sĩ - bác sĩ Thân Trọng Vũ và bác sĩ Lê Kim Phượng đã thực hiện thành công ca phẫu thuật.

Hiện sức khỏe bệnh nhân đã ổn định. Kết quả giải phẫu bệnh lý sau mổ cho thấy bệnh nhân mắc bệnh ung thư tuyến nang, một bệnh lý hiếm gặp, chiếm khoảng 0,2% trong tổng số ung thư hệ hô hấp.

Bệnh diễn biến âm thầm nên thường phát hiện muộn và một khi đã xuất hiện triệu chứng thì dễ dẫn đến suy hô hấp và ảnh hưởng tính mạng nếu như không kịp thời khai thông đường thở. Đây là trường hợp đầu tiên phẫu thuật thành công ung thư khí quản ngực tại Bệnh viện Đà Nẵng.


(Nguồn: Xã Luận Tin Tức)


Xem chi tiết…

Hôn nhân có lợi cho bệnh nhân ung thư

Trong một nghiên cứu mới gồm hơn 700.000 người có chẩn đoán mắc các dạng ung thư nguy hiểm nhất tại Mỹ, các tác giả thấy rằng những bệnh nhân đã kết hôn có khả năng phát hiện bệnh sớm, nhận được các cách điều trị tiềm năng và sống lâu hơn so với những bệnh nhân chưa kết hôn.



Nhóm nghiên cứu quan sát thấy rằng so với bệnh nhân chưa kết hôn thì tỉ lệ tử vong giảm 20% ở bệnh nhân đã kết hôn – lợi ích lớn hơn so với một số dạng hóa trị được sử dụng trong điều trị ung thư.

Tiến sĩ Paul Nguyen, tác giả chính của nghiên cứu đến từ Bệnh viện Brigham và phụ nữ ở Boston (Mỹ), nói: “Kết quả thật đáng ngạc nhiên”. Lợi ích bảo vệ mà hôn nhân mang lại có thể một phần là do người bệnh ung thư luôn được bạn đời quan tâm đến sức khỏe và nhắc nhở về việc sàng lọc ung thư.

Trong nghiên cứu này, các tác giả thấy rằng những người độc thân tăng 17% khả năng bị ung thư di căn ra ngoài vị trí ban đầu. Khả năng nhận được các liệu pháp điều trị phù hợp cũng ít hơn 53% ở những người chưa kết hôn.

Lợi ích của hôn nhân dường như tiếp tục khi người bệnh phải trải qua các trị liệu gây đau đớn vì họ luôn có bạn đời ở bên khích lệ, động viên.

Kết quả này phù hợp với các kết quả từ một nghiên cứu năm 2005 cho thấy phụ nữ lớn tuổi đã kết hôn bị ung thư vú có tỉ lệ tử vong thấp hơn sau khi có chẩn đoán so với những phụ nữ chưa kết hôn.

(Nguồn: tạp chí Journal of Clinical Oncology.)
Xem chi tiết…

Ung thư khí quản là một trong mười bệnh dẫn đến tử vong nhiều nhất



1. Ung thư khí quản, phế quản, và ung thư phổi

Đây là căn bệnh “giết người” phổ biến nhất. Các sản phẩm chứa nicôtin dường như sẽ ảnh hưởng đến bộ gen của con người. Hút càng nhiều và càng sớm thì nguy cơ bị ung thư phổi càng cao. Điều đáng sợ hơn là hơn 3.000 người không hút thuốc chết mỗi năm do ung thư phổi bắt nguồn từ việc hít phải khói thuốc thụ động (khói thuốc do người hút thở ra). Nó là căn bệnh ung thư chết người cho cả nam và nữ. Hằng năm, số người chết bởi ung thư phổi cao hơn cả ung thư vú, ung thư đại tràng và ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy, hãy từ bỏ thuốc lá và tránh xa những người hút thuốc càng sớm càng tốt.

2. Bệnh sốt rét

Sốt rét được gây ra bởi ký sinh trùng được truyền từ người đến người thông qua vết cắn của con muỗi bị nhiễm bệnh. Ở trong cơ thể người, ký sinh trùng di chuyển đến gan là nơi chúng sinh trưởng. Khi trưởng thành chúng giải phóng ký sinh trùng khác, ký sinh trùng này sau đó đi vào máu và nhiễm vào các tế bào máu ở đây.

Các ký sinh trùng sinh sôi này nở với tốc độ nhanh chóng, nhưng triệu chứng thì có thể phải mất một năm mới có biểu hiện cụ thể. Đây là căn bệnh chủ yếu ở nhiều nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ước tính có khoảng 300 – 500 triệu trường hợp mắc bệnh mỗi năm, và hơn một triệu người chết mỗi năm do bệnh này.

3. Bệnh lao – Tuberculosis

Dịch nhầy, sốt, mệt mỏi, ra mồ hôi quá nhiều và giảm cân, đó là triệu chứng của bệnh lao phổi hay còn gọi là bệnh lao. Lao là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn truyền nhiễm liên quan đến phổi nhưng nó có thể lây lan sang các cơ quan khác. Bệnh có thể ủ trong nhiều năm hoặc các triệu chứng sẽ rõ ngay trên cơ thể.

Những người có nguy cơ nhiễm lao cao gồm người già, trẻ sơ sinh và những người có hệ thống miễn dịch suy yếu do những bệnh khác chẳng hạn như AIDS, tiểu đường hay những người từng trải qua điều trị hóa trị. Một chế độ ăn nghèo dinh dưỡng và điều kiện mất vệ sinh là tất cả các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm lao. Tại Mỹ, có xấp xỉ 10 trường hợp mắc bệnh lao trên 100.000 người dân.

4. Bệnh tiêu chảy

Thật không dễ chịu chút nào khi cứ phải ở lỳ trong toilet chỉ vì tiêu chảy. Tiêu chảy được định nghĩa là đi phân lỏng hoặc phân nước kéo dài trong 1 hoặc 2 ngày. Nếu nó kéo dài đến 1 tuần hay thậm chí 1 tháng, bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn mãn tính. Bất cứ dạng tiêu chảy nào cũng gây nên mất nước, có nghĩa là cơ thể bị mất nhiều chất lỏng và chất điện giải quan trọng. Theo Viện y học Quốc tế, ở Mỹ, người lớn trung bình xảy ra tiêu chảy trầm trọng 1 lần/năm còn trẻ em là 2 lần/năm. Nếu không được chữa trị, tiêu chảy có thể dẫn đến mất nước nghiêm trọng, thậm chí tử vong.

5. Biến chứng trong quá trình sinh nở

Sinh đẻ có thể là một thời điểm kỳ diệu của bố mẹ trẻ và em bé, nhưng cũng có thể là bi kịch của sự mất mát. Hằng năm, khoảng nửa triệu phụ nữ trên thế giới chết do các biến chứng liên quan đến mang thai và sinh nở, bao gồm chảy máu trầm trọng, nhiễm trùng, nạo phá thai không an toàn, tắc nghẽn hoặc sản giật. Hơn 90% các ca tử vong xảy ra tại Châu Á và Châu Phi cận Sahara.

Các biến chứng trong quá trình sinh nở có thể không chỉ gây tử vong cho các bà mẹ, các yếu tố như cân nặng lúc sinh thấp cũng góp phần làm gia tăng tỉ lệ tử vong trẻ em. Trong số những ca tử vong, hơn 3 triệu trẻ sơ sinh chết trong tuần đầu tiên, thường gây ra do bé bị thiếu dinh dưỡng và sức khỏe kém.

6. Bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính

Bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính thường được gọi là COPD, một hình thức phổ biến nhất của bệnh phổi, làm cho người bệnh rất khó thở. Có hai dạng khác nhau, một là viêm phế quản mãn tính được định nghĩa bằng những cơn ho dài cùng với dịch nhầy, dạng khác được gọi là khí phế thũng, nó phá hủy các nang phổi theo thời gian.

Hầu hết những người bị COPD đều có dấu hiệu của cả hai dạng này. Hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu của bệnh này, các nguy cơ khác bao gồm tiếp xúc với khí hoặc khói tại nơi làm việc, cũng như việc tiếp xúc với khói thuốc thụ động.

7. HIV/AIDS

HIV / AIDS lần đầu tiên được báo cáo trong những năm 1980 và trong suốt nhiều thập kỷ qua, căn bệnh này ngày càng “đe dọa” con người nhiều hơn. HIV là viết tắt của virus gây suy giảm hệ thống miễn dịch của con người và nó là loại virus mà ta không thể chống lại. Và đây là căn bệnh “giết người” đe dọa tất cả mọi người trên trái đất.

Virus tấn công tế bào T và tế bào CD4, các tế bào chống nhiễm trùng, cuối cùng, cơ thể không thể chiến đấu với bất kỳ loại nhiễm trùng hoặc bệnh tật nào nữa và bệnh phát triển thành AIDS. AIDS, hay suy giảm hệ thống miễn dịch, là khi hệ thống miễn dịch của bạn gần như không hoạt động. HIV/AIDS bị lây truyền thông qua truyền máu hoặc chia sẻ kim tiêm hoặc các chất dịch cơ thể.

8. Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới


Tất cả chúng ta đều cần hít thở. Có hai loại nhiễm trùng đường hô hấp dưới là viêm phế quản và viêm phổi. Một số triệu chứng phổ biến của các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp là chảy nước mũi, hắt hơi, nhức đầu và đau cổ họng. Trẻ em cũng dễ bị bệnh này. Thường là khó chẩn đoán viêm đường hô hấp dưới hơn, vì chúng có thể được gây ra bởi virus hoặc vi khuẩn phát triển trong phổi.

9. Bệnh tai biến mạch máu não


Bệnh tai biến mạch máu não hay còn gọi là đột quỵ. Đột quỵ xảy ra khi lưu lượng máu tới một phần của não bị gián đoạn vì một mạch máu trong não bị chặn (đột quỵ do thiếu máu cục bộ) hoặc bị vỡ mạch (đột quỵ xuất huyết). Nếu lưu lượng máu bị chặn lại lâu hơn một vài giây, não không thể nhận được máu và oxy. Dẫn đến các tế bào não chết, gây tổn tương vĩnh viễn. Cao huyết áp là nguyên nhân số 1 gây nguy cơ đột quỵ.

10. Bệnh tim thiếu máu cục bộ

“Thiếu máu cục bộ” có nghĩa là một cơ quan (như tim) không nhận được đủ máu và oxy. Khi các động mạch đưa máu và oxy tới tim bị chặn, có nghĩa là bạn bị bệnh tim thiếu máu cục bộ. Nếu không được chữa trị, bệnh có thể dẫn đến suy tim và tử vong. Tỷ lệ người mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ là 1/100, thường là nam giới trung niên hoặc cao tuổi.

Các yếu tố nguy cơ bao gồm bệnh tiểu đường, huyết áp cao và béo phì. Điều tốt nhất bạn có thể làm để ngăn chặn bệnh tim thiếu máu cục bộ là chăm sóc tốt nhất sức khỏe của mình và chắc chắn rằng các cơ quan của cơ thể được kiểm tra đầy đủ.

(nguồn:hanhphucgiadinh)
Xem chi tiết…

10 khám phá y học quan trọng nhất năm 2012

Thời điểm cuối mỗi năm là dịp để mỗi ngành nghề nhìn lại sự phát triển, những thành tựu của mình qua một năm. Năm 2012 đã sắp kết thúc, BME.VN xin giới thiệu với bạn đọc các khám phá y học quan trọng nhất trong năm 2012 theo bình chọn của tạp chí TIME. Dưới đây là danh sách các khám phá xếp theo thứ tự tăng dần:

10. Virus diệt mụn trứng cá

Đôi khi cách tốt nhất để chống lửa là dùng lửa, đây là cách tiếp cận mới của các bác sĩ để chống lại mụn trứng cá, một hiện tượng khó chịu của tuổi thanh niên. Phương pháp mới sử dụng một loại virus tương đối trơ để chống lại các vi khuẩn có vai trò tạo ra các mụn trứng cá trên da. Những virus này được đưa vào các lỗ chân lông và có khả năng tác động lên các tế bào vi khuẩn, chuyển hóa chúng thành các nhà máy tạo ra virus trước khi phá hủy vi khuẩn. Với cách gia tăng số lượng như vậy nên các nhà nghiên cứu cho rằng có thể sử dụng virus này bằng cách thoa một lớp kem mỏng có chứa virus. Hoặc họ cũng có thể sử dụng một lớp kem có chứa các tác nhân diệt vi khuẩn do virus sinh ra. Bằng cách nào thì nó cũng có thể giúp làm sạch da.

9. Trứng chuột nhân tạo
  
Tế bào gốc dường như có thể làm được những điều không tưởng trong sinh học như điều trị bệnh đái đường, giúp người bại liệt có thể đi trở lại, sửa các mô tim gây ra chứng đột quỵ. Nhưng tế bào gốc còn có thể tái tạo một trong những bộ phận cơ bản nhất của sự sống - đó là trứng và tinh trùng. Các nhà khoa học Nhật Bản đã sử dụng 2 loại tế bào gốc từ chuột, một từ phôi thai vài ngày tuổi, một từ tế bào da của chuột trưởng thành và đã tạo ra tế bào trứng sống. Sau đó, các trứng này đã được thụ tinh thành công để tạo ra những chú chuột đầu tiên được sinh từ trứng tạo ra từ tế bào gốc. Những chú chuột con khỏe mạnh là minh chứng về khả năng tái tạo của tế bào gốc và mở ra hy vọng về các phương pháp điều trị mới cho những cặp vợ chồng vô sinh

8. Giải mã khối u ở trẻ em
  
Tỉ lệ sống sót đối với các ca ung thư ở trẻ em đã tăng với tỉ lệ đáng khích lệ 80-90% trong những năm gần đây, chủ yếu dựa trên việc chẩn đoán sớm các khối u kết hợp với các biệ pháp can thiệp mới, hiệu quả bao gồm phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Vì vậy các bác sĩ hi vọng dự án Pediatric Cancer Genome, một dự án trong 3 năm với kinh phí 65 triệu USD để xác định những bệnh ung thư chủ yếu ở trẻ em, sẽ trở thành nguồn cung cấp những kiến thức mới cho việc điều trị. Hiểu được nguyên nhân do gen của ung thư sẽ mở ra hy vọng tìm thấy những điểm chung giữa nhiều dạng ung thư khác nhau, cho phép bác sĩ sử dụng các biện pháp điều trị hiệu quả của dạng ung thư này cho dạng ung thư khác.

 7. Rút ngắn thời gian các biện pháp chẩn đoán dựa trên DNA cho trẻ sơ sinh

50 giờ, đó là thời gian cần thiết hiện nay để giải mã bộ gen của một trẻ sơ sinh, công việc mà trước đây cần hàng tuần thậm chí hàng tháng. Việc phân tích bộ gen trở nên nhanh hơn nhờ những tiến bộ mới trong kỹ thuật phân tích gen và các phần mềm mới có khả năng kết nối 3500 khiếm khuyết gen gây bệnh cho trẻ sơ sinh đã được phát hiện, cho phép bác sĩ có thể quyết định biện pháp điều trị một cách nhanh chóng để cứu mạng sống của những bệnh nhân này. Khoảng 30% bệnh nhi phải chuyển đến khoa chăm sóc đặc biệt mỗi năm có liên quan đến các bệnh vì gen, vì vậy việc phân tích bộ gen có thể trở thành một việc quan trọng trong việc chăm sóc cho những trẻ sơ sinh này trong những năm tới

6. Đối phó bệnh ung thư vú

Ung thư vú là một bệnh phức tạp vì nguyên nhân vừa do gen, vừa do các điều kiện sống. Tuy nhiên, trong những phân tích ADN mới nhất, các nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng bệnh này đơn giản hơn chút ít so với những điều họ đã nghĩ. Cancer Genome Atlas, một dự án của chính phủ Mỹ phân tích bộ gen của nhiều bệnh ung thư đã phát hiện ra trên 30 000 đột biến trong 510 mẫu ung thư vú nhưng có thể chia thành 4 nhóm. Một loại có những điểm giống với ung thư buồng trứng, mở ra khả năng sử dụng những biện pháp điều trị ung thư buồng trứng cho các bệnh nhân ung thư vú. Những kiến thức này có thể được chuyển thành các cơ hội để điều trị bệnh ung thư vú

 5. Hy vọng đảo ngược bệnh tự kỷ

Các nhà nghiên cứu cho rằng các biện pháp trị liệu hành vi sớm có thể giúp bình thường hóa những vùng não liên quan đến bệnh tự kỉ. Những trẻ được chẩn đoán có rối loạn phổ tự kỷ (autism spectrum disorders) tham gia chương trình Early Start Denver Model đã có sự thay đổi về các thức xử lí mặt người và đồ vật. Trẻ em bị chứng tự kỷ thường thể hiện nhiều hoạt động não hơn khi chúng xem ảnh của một vật thể di động như một đồ chơi so với khi nhìn bức ảnh gương mặt một người phụ nữ. Tuy nhiên, sau hai năm tham gia ESDM, những trẻ bị tự kỷ đã có phản ứng ngược lại và các vùng não trở về gần như của trẻ bình thường. Đây là dấu hiệu đầy hi vọng chứng tỏ rằng có thể có sự liên quan giữa những thay đổi trên não với bệnh tự kỷ và có thể đảo ngược tình hình. Tuy nhiên, điểm mấu chốt cho sự thành công của chương trình này bao gồm biện pháp can thiệp sớm và đặc biệt với các tư vấn viên được đào tạo thích hợp, những người có thể hợp tác với những đứa trẻ trong nhiều giờ mỗi tuần.

4. Bộ phận cơ thể phát triển trong phòng thí nghiệm

Khí quản không giống với thận hay gan, nó không nằm trong danh sách các mô thường có thể cấy ghép. Như nhờ vào tế bào gốc, các bệnh nhân cần một khí quản mới có thể nuôi một đoạn ống cho chính họ. Các nhà khoa học tại Karolinska Institute(Thụy Điển) đã tạo ra một khí quản nhân tạo từ các sợi siêu nhỏ (microfiber) và tế bào gốc được trích ra từ tủy xương của một bệnh nhân bị ung thư khí quản. Trong ca đầu tiên, khí quản được hiến tặng từ một người đã mất được sử dụng làm khung cho các tế bào gốc của một phụ nữ người Tây Ban Nha. Trong trường hợp mới nhất, các nhà khoa học đã sử dụng một khung nhân tạo để "gieo" các tế bào gốc. Kỹ thuật này đã mở ra tương lai cho y học tái tạo, tạo ra cơ sơ để tạo ra bất kỳ loại tế bào hoặc mô cần thay thế hoặc sửa chữa.

3. Thuốc phòng HIV

Đã có thêm một vũ khí hiệu quả chống lại HIV, đó là thuốc Truvada, một sự kết hợp của 2 loại dược phẩm chống virus, hiện nay là phương pháp dùng thuốc đầu tiên để ngăn ngừa sự nhiễm virus cho những người khỏe mạnh. Sau những thử nghiệm mang tính đột phá đã cho thấy tỉ lệ nhiễm HIV ở những người sử dụng thuốc này thấp hơn trung bình, FDA đã chứng nhận sử dụng Truvada cho những người khỏe mạnh có nguy cơ nhiễm HIV. Các nghiên cứu cho thấy những người đồng tính nam cũng như bạn tình khỏe mạnh của những người dương tính với HIV đã giảm nguy cơ bị nhiễm HIV từ 42% xuống 75%. Trong khi có những ý kiến cho rằng các biện pháp điều trị có thể dẫn tới những hành vi có độ rủi ro cao như quan hệ tình dục không có bảo vệ, các chuyên gia về y tế vẫn chào đón phương pháp mới để chống lại đại dịch AIDS: phòng sự lây nhiễm là ưu tiên trước nhất.


2. Bug có vai trò như thế nào?

Trong cơ thể con người, thành phần nào có số lượng lớn nhất? Không phải tế bào, không phải gen mà là bug. Đây là những microbe(cơ quan hữu cơ rất nhỏ) sống trong, trên và xung quanh tế bào của chúng ta với tỉ lệ 10 microbe/tế bào. Và các nhà nghiên cứu đã hoàn thành bước đầu tiên của Dự án Human Microbiome, một dự án nghiên cứu toàn diện nhất để xác định những microbe này là gì và vai trò của chúng như thế nào. Hầu hết chúng là bạn của chúng ta, chúng làm việc liên tục để đảm bảo rằng chúng ta có thể tiêu hóa thức ăn, xây dựng một hệ miễn dịch khỏe mạnh. Nhưng trong khi tìm hiểu về bug, các nhà khoa học cũng nhận ra rằng chúng có thể đóng một vai trò quan trọng trong một số bệnh mạn tính bao gồm chứng viêm và bệnh béo phì. Các microbe còn có thể giúp chúng ta giải quyết một số vấn đề sức khỏe hóc búa nhất hiện nay.

1. Không còn là rác

Trước đây, 98% bộ gen con người được cho là vô ích vì không mã hóa cho bất cứ mục đích nào. Nhưng những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những đoạn DNA không quan trọng này thực tế lại là các đạo diễn trong di truyền hoặc là một loại công tắc giúp cho sự trao đổi vật chất. Chúng có vai trò quy định cách thức và thời điểm các gen thể hiện chức năng cũng như cách thức các gene đảo các các protein tương ứng. Các nhà khoa học cho biết, không có chúng, gen sẽ như một đống rác lộn xộn như những từ rời rạc không có ý nghĩa gì. Họ cũng phát hiện ra một kho báu thông tin sinh học và theo đuổi những phương pháp mới để kiểm soát và có thể là chữa trị những bệnh liên quan đến các công tắc di truyền này.

Xem chi tiết…

Phấn rôm, cần đề phòng

Theo thống kê, cứ 70 bé gái sử dụng phấn rôm thì có 1 bé lớn lên sẽ bị u ác tính ở buồng trứng.

Cho dung phan rom!

Phấn rôm (hay phấn thơm) vốn được các bậc phụ huynh sử dụng sau khi tắm cho trẻ xong, với mong muốn tránh rôm sảy, mẩn ngứa do tã lót. Nhưng các chuyên gia kiểm soát chất độc của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra lời cảnh báo về những hiểm họa ít người biết đến của loại phấn vốn rất được tin dùng này.

Ở tình trạng bình thường, chỉ để bôi ngoài da thì phấn rôm không gây tác động xấu tới sức khỏe của trẻ, nhưng nếu trẻ hít phải phấn rôm thì có thể gây ra tình trạng thiếu ô-xy do tắc khí quản, cản trở hoạt động hô hấp. Tác động đến phổi và đường hô hấp sẽ gây ảnh hưởng lâu dài. Đặc biệt, đối với các bé gái, không nên thoa phấn rôm vào nửa thân phía dưới: như mặt trong đùi, vùng quanh âm hộ, bụng dưới…

Phấn rôm tác động đến phổi

Được biết, phấn rôm bao gồm nhiều công thức hóa học khác nhau, nhưng thành phần chính là bột talc. Đây là một khoáng chất khai thác từ mỏ, có thành phần cấu tạo chủ yếu là silicate magnesium ngậm nước, điều chế thành dạng bột phấn. Bột talc được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp để làm thức ăn cho vật nuôi, dây cáp, gạch men…

Phấn rôm ảnh hưởng tới phổi của bé.

Khi trẻ hít quá nhiều bột phấn rôm sẽ gây ra tình trạng nghẽn đường thở, gây viêm và sưng phổi. Với kích thước rất nhỏ, các hạt bột phấn sẽ len lỏi vào tận phế nang của trẻ, hơn nữa, hệ miễn dịch của trẻ còn rất yếu, chưa phát triển hoàn toàn nên tác động của phấn rôm sẽ nhanh chóng loại bỏ khả năng bảo vệ của khí quản.

Theo báo cáo hàng năm của Trung tâm kiểm soát chất độc Hoa Kỳ, có tới 6291 ca ngộ độc phấn rôm trong năm 2002, chủ yếu là ở trẻ em dưới 6 tuổi.

Không nên dùng phấn rôm cho bé gái

Đối với các bé gái, việc sử dụng phấn rôm trong một thời gian dài sẽ làm tăng khả năng mắc bệnh ung thư buồng trứng, lớn hơn gấp 4 lần so với những trẻ bình thường.

Các nhà khoa học giải thích, sở dĩ phấn rôm có liên quan tới khối u ác tính ở buồng trứng là do cấu tạo cơ thể bé gái. Hố chậu và bộ phận sinh dục bên trong của nữ thông với bên ngoài, do đó những bụi phấn, chất ô nhiễm siêu nhỏ từ môi trường có thể xâm nhập vào hố chậu thông qua âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, ống dẫn trứng… Do đó, khi bạn thoa phấn rôm vào vùng bụng dưới, hạt phấn sẽ xâm nhập cơ thể và nhiễm vào đường âm đạo.

Hiện nay, các nhà khoa học chưa đưa ra kết luận chính thức về tác động của phấn rôm gây ung thư buồng trứng, nhưng họ vẫn lên tiếng cảnh báo các bậc cha mẹ nên thận trọng, tốt nhất là không nên sử dụng phấn rôm để thoa vào phần bụng dưới của trẻ.

Không dùng phấn rôm thoa vào phần bụng dưới của bé.

Để phấn rôm xa tầm tay trẻ em

Việc sử dụng phấn rôm không đúng cách sẽ gây những hậu quả khôn lường, bởi chỉ cần một lượng rất nhỏ xâm nhập cơ thể thì nó cũng có thể phá hoại chức năng của khí quản và phổi. Đặc biệt, hiện nay vẫn chưa có một loại thuốc đặc trị nào có thể trị khỏi căn bệnh này.

Các bà mẹ không nên để trẻ nghịch phấn rôm, để xa tầm với của trẻ để tránh trường hợp bé đưa hộp lên miệng ngậm, hoặc hít phải hạt phấn…

Trong trường hợp dùng phấn rôm, cha mẹ nên nhẹ nhàng đổ một lượng nhỏ ra lòng bàn tay và xoa từ từ lên vùng da bị rôm sẩy của bé, không lắc và xoa mạnh. Sau khi sử dụng phải đậy nắp cẩn thận, cất trên cao và tuyệt đối không để trẻ chơi với hộp phấn rôm.
Xem chi tiết…

Đặt nội khí quản khi ngồi

Các bác sĩ khoa ngoại Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ vừa dùng ống soi mềm đặt nội khí quản trong tư thế ngồi cho một bệnh nhân bị khó thở do khối bướu to chèn ép đường thở.


Bệnh nhân Đ.T.H. (75 tuổi, bị ung thư tuyến giáp), khối bướu cổ to chèn ép khí quản, người nhà cho biết bà thường xuyên khó thở khi nằm, phải ngủ trong tư thế ngồi. Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân xẹp khí quản và chỉ định mở khí quản để giải phóng đường thở

Trong quá trình chẩn đoán, bác sĩ phát hiện có một mạch máu to chèn ngang qua khí quản nên không thể mở khí quản theo kỹ thuật gây tê thông thường. Do bà H. không thể nằm, các bác sĩ quyết định đặt ống nội khí quản trước khi gây mê và trong tư thế ngồi.

Người bệnh ngồi trên bàn mổ, được dùng ống soi mềm, phun tê, soi qua khí quản phát hiện chỗ hẹp, đặt ống nội khí quản, sau đó trở lại tư thế nằm, gây mê và phẫu thuật mở khí quản. Hiện bà H. đã nằm được, không còn khó thở, bước điều trị tiếp theo có thể là hóa trị hoặc xạ trị vì khối bướu đã dính phức tạp vào cột sống nên không thể bóc tách.
Xem chi tiết…