Viêm thanh khí phế quản và những điều cần biết

Viêm thanh khí phế quản là một tình trạng nhiễm trùng làm phần bên trong cổ họng trẻ sưng phồng, gây khó thở cho trẻ. Bệnh có thể gây kinh hãi cho các bậc cha mẹ và trẻ em.

Xem thêm >> ung thư khí quản

Viêm thanh khí phế quản rất phổ biến ở trẻ nhỏ. Hầu hết các trường hợp bệnh viêm thanh khí phế quản chỉ ở mức độ nhẹ nhưng bệnh có thể trở nặng và làm bé không thở được. Gọi cho bác sĩ nếu bạn nghĩ con mình bị viêm thanh khí phế quản và bé thở rất khó khăn.

Viêm thanh khí phế quản thường do virut gây ra, làm nhiễm trùng thanh quản và khí quản. Dấu hiệu chính của bệnh viêm thanh khí phế quản là tiếng ho khàn. Bệnh có thể bắt đầu bằng chứng cảm lạnh. Hầu hết các trẻ em bị bệnh viêm thanh khí phế quản do virút đều bị sốt nhẹ nhưng một số trẻ có thể sốt lên đến 40°C hoặc 104°F.

Dấu hiệu
Tiếng ho khàn tiếng
Thở khó khăn hoặc phát ra âm thanh lớn
Thở thô ráp
Thở hổn hển
Bạn cần làm gì

Gọi số 115 hoặc xe cứu thương ngay lập tức nếu có dấu hiệu

Không thể nói do bị hụt hơi.
Dường như thở rất khó khăn.
Mỗi lần hít vào, âm nghe nghe rin rít (gọi là thở rít*.)
Chảy nước miếng nhiều hơn bình thường hoặc nuốt nước miếng rất khó khăn.
Miệng hoặc móng tay tái xanh.

Tất cả các dấu hiệu trên cho thấy trẻ bị viêm thanh khí phế quản nặng. Đó có thể cũng là dấu hiệu của các chứng bệnh nghiêm trọng khác. Dù đó là dấu hiệu của bệnh gì đi nữa, bạn cần đưa con đến bệnh viện.

Những ai bị viêm thanh khí phế quản?

Hầu hết trẻ em sẽ một hai lần bị viêm thanh khí phế quản trong đời. Một số trẻ em luôn bị viêm thanh khí phế quản khi cảm lạnh hoặc bị cúm. Có thể bị viêm thanh khí phế quản bất cứ lúc nào nhưng bệnh thường xảy ra vào mùa đông.

Trẻ em thường dễ bị bệnh viêm thanh khí phế quản nhất là vào khoảng từ 6 tháng đến 3 tuổi. Bệnh ít xảy ra đối với trẻ sau 3 tuổi. Do khí quản của trẻ ở độ tuổi này đã phát triển lớn hơn nên sưng họng thường không gây trở ngại cho việc hít thở.

Nếu con bạn thường xuyên bị viêm thanh khí phế quản, có thể bé có các vấn đề khác nữa. Hãy nói chuyện với bác sĩ của bé.

Bạn có thể ngăn ngừa bệnh viêm thanh khí phế quản không?

Bạn không thực sự ngăn ngừa được bệnh viêm thanh khí phế quản nhưng có thể ngăn ngừa một bệnh khác nghiêm trọng hơn – đó là bệnh viêm nắp thanh môn cấp tính . Các triệu chứng bệnh rất giống với triệu chứng của bệnh viêm thanh khí phế quản nhưng còn tồi tệ hơn. Bệnh này thường xảy ra với trẻ từ 1 đến 5 tuổi.

Tuy nhiên, tin đáng mừng là vắc-xin Hib có thể ngăn ngừa căn bệnh này. Con bạn nên được cho chích ngừa mũi Hib đầu tiên vào lúc 2 tháng tuổi.
Gọi bác sỹ nếu…
Con bạn chỉ mới một tuổi hoặc nhỏ hơn, hoặc
Cơn ho ngày càng trở nặng.
Cách điều trị tại nhà

Viêm thanh khí phế quản có thể làm con bạn thức giấc lúc nửa đêm. Nếu bé không gặp khó khăn trong việc hô hấp, hãy thử những phương pháp điều trị tại nhà sau:
Mở nước nóng trong phòng tắm để hơi nóng bốc lên. Cho bé vào phòng để hít khí ẩm trong vòng 15 đến 20 phút. Xông hơi có tác dụng hiệu quả đối với nhiều trẻ em.
Nếu xông hơi không mang lại hiệu quả, hãy quấn khăn cho bé và đưa ra ngoài trời trong vài phút. Không khí mát mẻ buổi đêm có thể giúp bé thở dễ dàng hơn.
Sử dụng máy làm ẩm phun sương trong phòng suốt cả đêm. Mở máy trong 2 - 3 đêm tiếp theo.

Thuốc điều trị bệnh viêm thanh khí phế quản

Bác sĩ có thể kê đơn cho dùng thuốc steroids* . Steroids có tác dụng giúp cổ họng bớt sưng tấy.

Thuốc kháng sinh không có tác dụng bởi vì bệnh viêm thanh khí phế quản là do virut gây ra.

Xi-rô Ho cũng không có tác dụng mà thậm chí nó còn làm bệnh tồi tệ hơn. Xi-rô có thể ngăn không ho ra đàm, mà đáng ra cần phải ho đàm ra ngoài khi bị nhiễm trùng.

Nguồn sưu tầm
Xem chi tiết…

Viêm phế quản: Nguyên nhân và triệu chứng

Viêm phế quản là gì?

Viêm phế quản là một bệnh hô hấp trong đó màng nhầy trong đoạn phế quản, phổi bị viêm. Khi màng bị kích thích nở ra và phát triển dày hơn, thu hẹp hoặc tắt đường hô hấp nhỏ trong phổi, dẫn đến tình trạng ho, có thể kèm theo đờm và hiện tượng khó thở.

Viêm phế quản được chia làm 2 loại:
Viêm phế quản cấp tính : thời gian kéo dài từ 1 đến 3 tuần. Viêm phế quản cấp tính bệnh nhân thường có biểu hiện ho khan, kèm theo đờm. Một số trường hợp viêm phế quản cấp tính có biểu hiện sốt cao, đôi khi có hiện tượng ho ra máu.

Viêm phế quản mãn tính : kéo dài ít nhất 3 tháng trong một năm và thường diễn ra trong 2 năm liên tiếp. Những người bị bệnh hen suyễn cũng có thể có viêm phế quản hen, viêm niêm mạc các ống phế quản.

Nguyên nhân viêm phế quản


Một số yếu tố được ghi nhận là nguyên nhân của bệnh viêm phế quản đã được chỉ ra:
- Virut chiếm từ 50% đến 90% các nguyên nhân gây bệnh viêm phế quản cho. Các virut thường gặp nhất trong bệnh viêm phế quản là vi rút cúm, vi rút cúm gia cầm (H5N1), virus đại thực bào đường hô hấp (respiratory syncticial virus), adenovirus, enterovirus (coxsackie và echovirus) và một số chủng herpes virus (cytomegalovirus, varicellae), …
- Vi khuẩn cũng là một nguyên nhân gây bệnh viêm phế quản. Tuy nhiên viêm phế quản do vi khuẩn gây nên thường ít gặp hơn so với viêm phế quản do virut gây ra.
- Viêm phế quản do hít phải khí độc như khí SO2, khí clo, amoniac, dung môi công nghiệp,…

Những người có nguy cơ cao mắc bệnh viêm phế quản


- Hút thuốc lá hoặc thường xuyên phải tiếp xúc với khói thuốc lá có nguy cơ cao mắc bệnh viêm phế quản.
- Những người có hệ thống miễn dịch suy yếu.
- Người già và trẻ sơ sinh.
- Người hay bị trào ngược dạ dày, thực quản.
- Những người tiếp xúc với chất kích thích tại nơi làm việc, chẳng hạn như khói hoá chất từ amoniac, axit mạnh, chlorine, hydrogen sulfide, sulfur dioxide hoặc brom.

Triệu chứng bệnh viêm phế quản

Một số biểu hiện thường gặp của bệnh nhân viêm phế quản.
- Ho thường xuyên kèm theo đờm, ho kéo dai dẳng, thường ho vào buổi sáng sớm khi mới ngủ dậy.
- Sản xuất chất nhầy rõ ràng, màu trắng, màu vàng, màu xám, hoặc màu xanh lá cây (đờm)
- Khó thở
- Thở khò khè
- Mệt mỏi
- Sốt và ớn lạnh
- Đau ngực hoặc khó chịu
- Mũi bị chặn hoặc chảy nước mũi
Trên đây là một số triệu chứng của bệnh viêm phế quản. Nếu thấy xuất hiện các triệu chứng ho kéo dài không khỏi, ho có đờm kèm theo khó thở, khó ngủ cũng không nên vội kết luận là viêm phế quản, mà cần đến cơ sở y tế uy tín khám và xác định rõ bệnh. Khám và điều trị viêm phế quản kịp thời sẽ tránh để lại sẹo trong ống phế quản dễ dẫn tới viêm phế quản mãn.

Nguồn sưu tầm
Xem chi tiết…

Tiên lượng trong đặt nội khí quản


Đặt vấn đề: Phẫu thuật bệnh lý tuyến giáp khá phổ biến ở Việt Nam, thông khí và kiểm soát đường thở trước, trong và sau mổ trong phẫu thuật bệnh lý tuyến giáp được đặt ra.

Đặt nội khí quản thất bại là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong gây mê hồi sức. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tỷ lệ và những yếu tố liên quan đặt nội khí quản khó trong phẫu thuật bệnh lý tuyến giáp, nhằm tiên đoán một số tình huống đặt nội khí quản khó để có biện pháp dự phòng và xử lý nhanh chóng, chính xác những tình huống này.

Mục tiêu: Đánh giá những yếu tố tiên lượng đặt nội khí quản khó trong phẫu thuật bệnh lý tuyến giáp.Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang những trường hợp bướu giáp được phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân, Thành Phố Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 03 năm 2011.Kết quả: Trong 6 tháng, có 120 trường hợp bệnh lý tuyến giáp phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân, tất cả đều đặt ống nội khí quản.

Có 13 bệnh nhân đặt nội khí quản khó và không có trường hợp nào không đặt được ống nội khí quản. Tỷ lệ đặt nội khí quản khó tiên đoán là 26,6%, trong khi thật sự khó 10,8%. Phân tích đơn biến những yếu tố nguy cơ đặt nội khí quản khó: giới tính, tuổi, BMI, độ ngửa cổ, lưỡi to, độ mở miệng, tình trạng mất răng cửa, khoảng cách giữa hai hàm răng, khoảng cách cằm giáp, phân độ Mallampati, phân độ Cormack - Lehane.

Trong đó, có 8 nam - 112 nữ, tuổi trung bình 43,2 ± 13,9 tuổi (15 - 78 tuổi). BMI bình thường chiếm 74,2%, phân loại sức khỏe bệnh nhân theo ASA, ASA I: 72,5%, ASA II: 23,3%, ASA III: 4,2%, bướu giáp nhân chiếm tỷ lệ cao 76,6%, bệnh Basedow 17,5%. Những yếu tố tiên lượng đặt NKQ khó trong 13 trường hợp đặt nội khí quản khó: 30,8% có khoảng cách hai hàm răng < 4 cm đặt nội khí quản khó, 38,5% khoảng cách cằm giáp < 6 cm đặt nội khí quản khó, 30,8% Mallampati độ III đặt nội khí quản khó, 38,5%

Cormack - Lehane độ III nội khí quản khó, 7,7% bướu giáp thòng trung thất có đẩy lệch khí quản, đặt nội khí quản khó. Sau phẫu thuật có 2 trường hợp (1,6%) biến chứng chảy máu sau mổ và tổn thương thần kinh quặt ngược thanh quản.Kết luận: Tỷ lệ đặt NKQ khó trong phẫu thuật tuyến giáp chiếm tỷ lệ cao, một số dấu hiệu có thể tiên đoán đặt ống NKQ khó: khoảng cách giữa hai hàm răng < 4 cm, khoảng cách cằm giáp < 6 cm, phân độ Mallampati độ III, phân độ Cormack - Lehance độ III, bướu giáp to hay bướu thòng trung thất có dấu hiệu chèn ép hay đẩy lệch khí quản trên phim X quang > 1 cm.

Nguồn: moodle.yds.edu.vn
Xem chi tiết…

Đặt nội khí quản lý do phải đặt nội khí quản

noi-khi-quan

Đặt nội khí quản là gì và Tại sao phải đặt nội khí quản?

Mục đích


Là thủ thuật luồn qua miệng (hoặc mũi) một ống nội khí quản trong trường hợp khẩn trương, đe dọa tử vong như suy hô hấp cấp thể nguy kịch, sau ngừng tim, sặc bùn, ngạt nước, chấn thương sọ não, ngộ độc cấp…

Chỉ định


- Hút đàm, dị vật hoặc dịch đột nhập vào khí phế quản.
- Thông khí nhân tạo xâm nhập.
- Co thắt thanh môn sau khi rút ống NKQ vài phút – vài giờ
- Bảo vệ đường thở ở người bệnh hôn mê sâu hoặc liệt hô hấp, rửa dạ dày ở người bệnh hôn mê.
- Những trường hợp cứng, sai khớp hàm, phẫu thuật hàm họng, cổ cứng cần đặt ống NKQ qua đường mũi.

Chống chỉ định

1. Đặt ống NKQ qua đường miệng
- Sai khớp hàm, vỡ xương hàm
- U vòm họng
- Phẫu thuật vùng hàm họng

2. Đặt ống NKQ qua đường mũi
- Rối loạn đông máu, giảm tiều cầu, sốt xuất huyết
- Chảy nước não tủy qua xương sàng
- Viêm xoang, phì đại cuốn mũu
- Chấn thương mũi-hàm

Chuẩn bị

1. Cán bộ chuyên khoa: Bác sĩ HSCC đã được đào tạo.

2. Phương tiện
- Đèn soi thanh quản
- Ống NKQ các cỡ 6,5 - 8 đã kiểm tra bóng chèn, nòng
- Oxy, ống dẫn oxy, bóng ambu, mặt nạ
- Ống nghe, máy đo huyết áp, máy hút đàm
- Thuốc tiền mê, thuốc tê: thường chỉ cần midazolam, có thể cần thiopental, thuốc dãn cơ; lidocain, ketamin
- Kẹp Magill nếu đặt ống NKQ quản đường mũi.

3. Người bệnh
- Nếu tỉnh: Giải thích, động viên. Nếu mê: Giải thích cho thân nhân lợi ích của việc đặt ống NKQ.
- Người bệnh nằm ngửa, ưỡn cổ, kê vai bằng gối.
- Thở oxy 100% trong 5 phút. Nếu ngừng thở bóp bóng ambu với oxy 100% trước

Nguồn sưu tầm
Xem chi tiết…

Cấy ghép khí quản từ mô tế bào

Kết quả của cuộc cấy ghép đã được đăng tải trên trang web của tạp chí y học The Lancet vào ngày hôm nay.
khi-quan

Cuộc cấy ghép được thực hiện cho Claudia Castillo, một bà mẹ 30 tuổi người Colombia sống ở Barcelona. Castillo bị hen suyễn trong nhiều năm. Hồi tháng 3 vừa qua, sau khi phổi bên trái bị hỏng nặng, Castillo phải đến bệnh viện thường xuyên để làm sạch đường thở.

Mới đầu, các bác sỹ cho rằng giải pháp duy nhất là cắt bỏ toàn bộ phổi bên trái của cô. Tuy nhiên sau đó bác sỹ Paolo Macchiarini, người đứng đầu khoa phẫu thuật ngực tại Hospital Clinic ở Barcelona đã đề xuất cấy ghép khí quản.

Và khi các bác sỹ đã có đường khí quản của người hiến tặng, các nhà khoa học ở Trường đại học Padua, Italia, đã vứt bỏ tất cả các tế bào trên khí quản, chỉ để lại một đường ống mô liên kết.

Trong khi đó, các bác sỹ ở trường Đại học Bristol lấy mẫu tủy xương ở hông của Castillo. Họ dùng tế bào gốc ở tủy xương này để tạo ra hàng triệu tế bào mô và sụn để phủ và tạo nên đường ống khí quản.

Các chuyên gia ở Đại học Milan sau đó dùng một thiết bị để đưa các sụn và mô mới lên trên đường khí quản. Rồi đường khí quản mới được cấy ghép cho Castillo vào tháng 6 vừa qua.

“Họ đã tạo ra một cấu trúc mà xét về chức năng cũng như sinh vật học không thể bị cơ thể bệnh nhân từ chối được”, bác sỹ Allan Kirk thuộc Hiệp hội cấy ghép Mỹ cho biết. “Đây là một bước tiến quan trọng, mặc dù việc xây dựng một bộ phận hoàn toàn mới vẫn còn một chặng đường dài phía trước”.

Cho đến nay không có dấu hiệu nào cho thấy cơ thể Castillo từ chối bộ phận mới. Cô cũng sẽ không uống bất kỳ loại thuốc khử miễn dịch nào, loại thuốc có thể gây ra những phản ứng phụ như huyết áp tăng cao, suy thận hoặc ung thư.

“Mới đầu tôi rất sợ”, Castillo cho biết với báo chí. “Nhưng giờ tôi đang tận hưởng cuộc sống và rất hạnh phúc khi bệnh đã được chữa”.

Các bác sỹ cho biết hiện Castillo đã có thể chăm sóc được con cái, đi bộ với một khoảng cách vừa phải mà không bị khó thở. Thậm chí Castillo cho biết gần đây cô đã nhảy suốt đêm ở một câu lạc bộ tại Barcelona.

Tuy nhiên bác sỹ Eric Genden, người cũng đã thực hiện ca cấy ghép tương tự vào năm 2005 tại Bệnh viện Mount Sinai ở New York, cho rằng những tiến bộ của Castillo vẫn cần phải được theo dõi sát và phải mất tới 3 năm mới biết chắc chắn liệu cấu trúc sụn của đường khí quản có đặc và không bị vỡ ra hay không.

Song thành công trên đã mở ra hi vọng cho nhiều người, trong đó có trẻ em bị dị tật đường hô hấp bẩm sinh, người bị sẹo hoặc bị u ở khí quản, và những người bị vỡ khí quản.

Nguồn sưu tầm
Xem chi tiết…

Trị viêm khí -phế quản từ hoa quả

hoa-qua
Bệnh viêm khí phế quản mạn tính là do ho kéo dài gây ra, ho có đờm, bệnh biểu hiện chủ yếu ở hệ thống hô hấp, hay gặp ở người có tuổi. Bệnh gây nhiều trở ngại khó khăn trong sinh hoạt cũng như làm mất sức lao động của bệnh nhân.

Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh khí phế quản mạn tính bằng các loại hoa quả sẵn có, dễ thực hiện.

Bài 1: Bột quýt hồng (quýt tàu khô) 10g, bột gạo 500g, đường trắng 200g. Lấy bột quýt hồng và đường trắng cho vào trong hộp đảo đều. Trải một lớp vải sạch lên lồng hấp, cho bột gạo lên, để lửa to hấp nửa tiếng, lấy ra để nguội dùng dao ép bột gạo chín, rắc bột quýt hồng, đường lên, lại cho một lớp bánh bột gạo, ép xuống, lấy dao cắt thành miếng nhỏ là có thể ăn được.

Tác dụng: Kiện vị tiêu thức ăn, trị ho đờm, có thể phụ trợ trị ăn không ngon miệng, tiêu hóa không tốt, ho nhiều đờm.

Bài 2: Gà mái non 1 con, quýt hồng (khô) 25g, nõn rau cải dầu 100g, gia vị hành gừng vừa đủ. Quýt hồng ngâm nước ấm, rửa sạch đất cát, rau cải dầu cắt nõn rửa sạch, sau khi luộc để nguội. Hành thái đoạn, gừng thái miếng mỏng. Gà mái vặt lông, bỏ ngũ tạng, rửa sạch, cho gà vào nồi ngập nước, đun sôi bỏ bọt, cho quýt hồng, hành, gừng, để lửa nhỏ ninh 3 – 4 tiếng, khi thấy gà nhừ, cho gia vị và rau đã luộc qua vào, bỏ hành gừng ra, đợi sôi thêm 2 lần thì có thể ăn được.

Tác dụng: Trị ho hóa đờm, thanh phổi ức hỏa, thích hợp dùng cho những người già khí đoản, phổi nhiệt ho…

Bài 3: Quất vàng 300g, đường cát 300g. Quất vàng rửa sạch, bỏ hạt, ép bẹp, lấy đường trắng ướp 1 ngày, sau đó cho vào nồi nấu đến khi khô nước, cho ra đĩa để nguội, lại cho đường trắng vào phơi khô, ăn mấy quả trước và sau khi ăn cơm.

Tác dụng: Khai vị tiêu thức ăn, nhuận phổi hóa đờm. Vỏ quất vàng khai vị nhuận khí, tiêu thức ăn hóa đờm, trong chứa dầu, có tác dụng kích thích đường tiêu hóa, có lợi cho vị trưởngvà bài ra khí, có thể thúc đẩy dịch vị bài tiết, trợ tiêu hóa, có thể kích thích đường hô hấp, khiến bài tiết dịch tăng, làm loãng dịch đờm. Ruột quả khai vị lý khí, trị ho nhuận phế.

Bài 4: Quả trám tươi 50g, quả mơ 10g, đường trắng vừa đủ. Quả trám, quả mơ bổ ra, cho nước vào đun 20 phút, bỏ bã lấy nước, lấy đường trắng làm gia vị, có thể dùng trám khô 10g, uống thay trà.

Tác dụng: Thanh nhiệt giải độc, bồi bổ sức khỏe, nhuận táo, lợi yết hầu. Quả mơ có vị chua chát, tính bình, tác dụng hóa đờm trị ho, bồi bổ sức khỏe, nhuận táo, có thể tiêu đờm. Quả mơ kết hợp với quả trám có tác dụng thanh nhiệt giải độc, bồi bổ sức khỏe, nhuận táo, thường xuyên uống có thể lợi yết hầu nhuận họng, những người họng đau sưng, ho đờm, giọng không trong uống rất tốt.

Bài 5: Đơn bì (mẫu đơn bì) 50g, hạnh nhân 50g, đường phèn vừa đủ. Lấy 2 vị trên nghiền nhỏ, cho đường vừa đủ, uống vàobuổi sáng, buổi tối mỗi lần 9g, một liệu trình là 10 ngày.

Tác dụng: Khử đờm trị ho, thích hợp dùng trị bệnh viêm phế quản mạn tính.

Bài 6: Quả la hán 20g, nước 500ml. Cho quả la hán vào cốc, cho nước sôi đậy lại, ngâm 30 phút, uống ấm.

Tác dụng: Trị ho hóa đờm, thanh nhiệt nhuận phế.

Bài 7: Phổi lợn 250g, bắc hạnh 10g, nước gừng 1-2 thìa canh. Phổi lợn thái miếng, rửa sạch, cho bắc hạnh và nước vào nấu canh, khi canh được cho nước gừng vào, gia vị vừa đủ, uống canh ăn phổi lợn.

Tác dụng: Hóa đờm trị ho, bổ phế nhuận táo.

Bài 8: Hạnh nhân 20 hạt, thạch vĩ 30g, đường phèn 15g. Hạnh nhân bỏ vỏ, áo, nghiền nhỏ và cho cùng thạch vĩ vào nồi, cho 2 bát nước nấu đến khi còn 1 bát, bỏ bã thuốc cho đường phèn vào, đợi đường tan thì uống.

Tác dụng: Hóa đờm định suyễn.

Bài 9: Quả la hán nửa quả, hồng khô 2-3 quả, một chút đường phèn. Lấy quả la hán rửa sạch và quả hồng khô, cho 2 bátnước sắc còn 1 bát, cho ít đường phèn, bỏ bã, một ngày chia 3 lần uống.

Tác dụng: Thanh nhiệt khử hóa đờm, trị ho suyễn.

Bài 10: Ý dĩ nhân 30g, hạnh nhân 10g, đường phèn một chút. Lấy ý dĩ nhân nấu cháo, đợi khi gần chín cho hạnh nhân vào, để lửa nhỏ nấu đến khi chín, cho đường phèn, ăn vào buổi tối, sáng.

Tác dụng: Hóa đờm bình suyễn.

Nguồn sưu tầm
Xem chi tiết…

Kỹ thuật đặt nội khí quản ở người lớn

noi-khi-quan
Chỉ định


Ngừng thở

Suy hô hấp

Không có khả năng bảo vệ đường hô hấp

Rối loạn ý thức

Duy trì đường hô hấp

Chống chỉ định

Tổn thương thanh khí quản

Không đặt ống nội khí quản đường miệng khi có chấn thương hoặc dị dạng hàm mặt

Thiết bị

Máy theo dõi điện tim và máy đo nồng độ oxy máu mao mạch

Nguồn oxy

Thiết bị hút đờm

Đèn và lưỡi thanh quản

Lưỡi thẳng (Miller) cỡ 2 và 3 (A)

Lưỡi cong (Macintosh) cỡ 3 và 4 (B)

Ống nội khí quản (nhiều loại cỡ)
+ Nam: đường kính ống 8 - 8,5 mm
+ Nữ: đường kính ống 7,5 - 8 mm

Thiết bị kiểm tra vị trí ống (vd. thiết bị đo CO2 cuối thì thở ra, thiết bị phát hiện đặt ống nội khí quản vào thực quản)

 Thủ thuật

1. Đầu tiên đo nồng độ oxy máu mao mạch và theo dõi điện tim liên tục
a. Chọn ống nội khí quản có cỡ thích hợp và luồn que dẫn đường vào lòng ống

2. Kiểm tra thiết bị bao gồm cuff ống nội khí quản, đèn soi thanh quản và thiết bị hút đờm

3. Đánh giá giải phẫu đường dẫn khí của bệnh nhân, kích cỡ khoang miệng, chuyển động của cổ, răng, khoảng cách từ cằm tới sụn thanh quản và hàm răng giả (cần tháo bỏ răng giả). Sự thoải mái/tự tin trong thăm khám thanh quản tương quan với khả năng hình dung được vòm miệng mềm, lưỡi gà và các cột yết hầu.

4. Nếu không nghi ngờ tổn thương cột sống cổ, đặt bệnh nhân ở tư thế sniffing và kê gối dưới chẩm để sắp thẳng trục họng miệng-thanh quản.

5. Tăng oxy hoá máu trước bằng oxy 100% trong 1 - 2 phút và hút đờm khoang miệng là rất cần thiết.

6. Cùng với vị trí thủ thuật viên ở phía đầu bệnh nhân, điều chỉnh độ cao của giường tới mức thích hợp cho thủ thuật viên.

7. Để đèn soi thanh quản ở bên tay trái và ống nội khí quản ở bên tay phải.

8. Luồn lưỡi đèn vào góc bên phải của miệng bệnh nhân.

a. Nếu sử dụng lưỡi thẳng, đưa thẳng lưỡi đèn xuống tới trung tâm của lưỡi và dùng đầu lưỡi đèn nâng trực tiếp nắp thanh quản lên.

b. Nếu sử dụng lưỡi cong, gạt lưỡi sang bên trái của họng miệng, luồn lưỡi đèn vào khe nhỏ và nâng gián tiếp nắp thanh quản lên.

9. Dùng lực nâng cán đèn soi thanh quản theo hướng tạo một góc 900 với lưỡi đèn. Không bẩy cán đèn ra phía sau vì có thể gây tổn thương răng.

10. Quan sát thấy trực tiếp hai dây thanh âm và luồn ống nội khí quản có que dẫn đường vào khí quản cho tới khi cuff qua được hai dây thanh âm. Độ sâu chính xác của ống nội khí quản khoảng chừng 23 cm tính từ góc miệng ở nam giới và 21 cm ở nữ giới.

11. Cẩn thật rút bỏ que dẫn đường và bơm cuff (bơm 10 cc khí)

12. Kiểm tra vị trí ống nội khí quản bằng cách nghe phổi và các biện pháp khác.

13. Cố định ống nội khí quản.

Biến chứng

Giảm oxy máu

Tăng CO2 máu

Đặt ống vào thực quản

Đặt ống vào phế quản (chủ yếu đặt vào phế quản gốc phải)

Rối loạn nhịp tim

Tăng huyết áp

Tăng áp lực nội sọ

Chấn thương răng

Tổn thương niêm mạc

Tuột ống ra sụn phễu

Làm nặng hơn tổn thương cột sống cổ.

Nguồn sưu tầm
Xem chi tiết…