Các kỹ thuật đặt nội khí quản khó

noi-khi-quan
Nội khí quản
Đặt nội khí quản  là một trong những phương pháp kiểm soát đường thở được dùng và đáng tin cậy nhất hiện nay. Song việc đặt NKQ vẫn luôn là thách thức lớn thường trực hằng ngày đối với các người làm Gây mê hồi sức khi họ đối mặt với NKQ  khó.
1. Định nghĩa :
- Dùng đèn soi thanh quản rất khó khăn hoặc không nhìn thấy dây thanh âm
- Đặt nội khí quản quá 2 lần không thành công
2. Tiên lượng những trường hợp đặt NKQ khó :
 A. Tiền sử bệnh nhân: Hỏi tiền sử bệnh nhân một số tổn thương hay bệnh lý có liên quan đến đặt NKQ khó.
- Bị chấn thương hay có mổ về vùng hàm mặt
- Bệnh nhân bị bướu cổ hay u trung thất 
- U vùng hầu họng
.
B. Dấu hiệu lâm sàng:
.
Cổ ngắn : Khoảng cách từ bờ trên sụn nhẫn đến bờ dưới của xương hàm dưới <6cm
Giới hạn độ gập ngửa cổ
Miệng nhỏ
Hàm trên nhô ra trước ( vẩu , hô)
Cằm lẹm: Hàm dưới đẩy ra sau với góc hàm dưới tù
Sẹo co rút vùng cằm cổ 
Di động hàm dưới hạn chế
Ngoài ra, còn có những tiêu chuẩn khác:
Tiêu chuẩn Mallampati
Bệnh nhân được yêu cầu há miệng, thè lưỡi tối đa khi ngồi thẳng và nói A. Tùy theo cấu trúc hầu họng có thể thấy được mà đường thở được phân loại như sau:
Class 1:  Khẩu cái mềm, màng hầu, lưỡi gà và cột màng hầu đều được nhìn thấy .
Class 2: Như trên nhưng không thấy cột màng hầu
Class 3: Chỉ thấy khẩu cái mềm và đáy lưỡi gà
Class 4: Chỉ thấy khẩu cái cứng
Phân loại càng cao, nguy cơ khó đặt nội khí quản càng cao.
Tiêu chuẩn Wilson Risk
Kỹ thuật này đánhg giá 5 yếu tố liên quan đến khó đặt nội khí quản, đó là cân nặng, cử động đầu và cổ, khả năng há miệng, sự phát triển hàm (cằm lẹm) và răng vẩu. Mỗi yếu tố được cho theo điểm 0, 1, 2 và khoảng thang điểm là 2 – 10. Điểm càng cao tiên lượng đặt NKQ khó càng lớn.
3. Thái độ xử trí khi gặp đặt nội khí quản khó
Đứng trước một trường hợp đặt nội khí quản khó cần tính đến các yếu tố sau:
- Bệnh nhân có khả năng thông khí bằng mask không?
- Các trang thiết bị hiện có để đặt nội khí quản khó( Bộ đèn đặt NKQ khó, Mandrin cứng Que dẫn đường, Mask Thanh Quản….)
- Kinh nghiệm của người gây mê.
- Thể trạng của bệnh nhân, các bệnh lý kèm theo.. .
.
Cần tôn trọng nghiêm ngặt những nguyên tắc sau:
- Không thực hiện một mình, phải luôn có ít nhất một người hỗ trợ.
- Chuẩn bị sẵn sàng đầy đủ mọi dụng cụ cần thiết có sẵn.
- Chuẩn bị hệ thống theo dõi liên tục độ bão hoà oxy, huyết áp động mạch, điện tim, mạch, tần số thở...
- Để bệnh nhân tỉnh táo và tự thở.
- Cung cấp oxy 100% cho bệnh nhân vài phút trước đặt nội khí quản.
- Gây tê vùng hầu họng hoặc nếu cần cho bệnh nhân ngủ thì vẫn phải để cho bệnh nhân tự thở. Trường hợp nếu đặt NKQ với giãn cơ thì dùng giãn cơ có thời gian tác dụng ngắn với điều kiện bệnh nhân thông khí được bằng mask.
Vậy làm thế nào để tiên lượng khó thông khí bằng mặt nạ (DMV: Difficult Mask Ventilation) ??
Khó thông khí bằng mặt nạ được định nghĩa là tình huống trong đó một mình người làm gây mê không thể duy trì được độ bão hòa oxy SpO2 >92% hoặc không thể ngăn ngừa hay phục hồi dấu hiệu thiếu thông khí bằng thông khí mặt nạ áp suất dương dưới tác dụng của gây mê toàn thân.
Có 5 yếu tố dùng tiêng lượng khó thông khí bằng mặt nạ được tóm tắt bằng “OBESE”
- Obese (BMI > 26 kg/m2) 
- Bearded (có râu quai nón)
- Elderly (> 55 tuổi) 
- Snorers (có tiền căn ngáy)
- Edentulous (không có răng)
Chỉ cần có ít nhất 2 dấu hiệu trên thì khả năng DMV rất cao
Một số kỹ thuật đặt nội khí quản khó
Thay đổi tư thế bệnh nhân
- Có thể kê cao đầu bằng một gối nhỏ khoảng 10cm để làm cho trục khoang miệng và thanh quản thành một đường thẳng.
- Nhờ người phụ ấn vào sụn thanh quản ra sau và lên trên.
- Nhờ người phụ kéo môi trên ra sau để thấy thanh quản rõ hơn.
Dùng nòng nội khí quản hoặc que dẫn đường
- Dùng nòng nội khí quản (Mandrin hay Stylet) cho vào ống nội khí quản để uốn cong nội khí quản theo hình cây gậy hoặc chữ S để đặt dễ dàng hơn.
- Dùng que dẫn đường (guide) có một đầu mềm, đặt vào trong khí quản trước sau đó luồn ống nội khí quản theo que này.
Các phương pháp khác
- Đặt nội khí quản ngược dòng
- Đặt nội khí quản bằng ống soi mềm
- Dùng mask thanh quản
- Chọc kim qua màng nhẫn giáp để thông khí
- Mở khí quản.

Nguồn bvdkquangnam.vn
Xem chi tiết…

Triệu chứng khàn tiếng, ho và khó thở là biểu hiện bệnh gì ?

Triệu chứng khàn tiếng, ho và khó thở là biểu hiện bệnh lý gì là điều mà nhiều người quan tâm, hi vọng bài tư vấn hỏi đáp dưới đây sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi đó


Hỏi: Thưa bác sĩ, Cách đây 2 tháng tôi bị cảm ho nhiều và bị khàn tiếng hết cả tuần. Khi ho xong tôi bị khó thở, phải cố gắng lấy hơi một lúc mới thở được giống như ở cổ bị phù ra làm khó thở. Đi khám, có BS nói bị viêm thanh quản, BS khác lại nói viêm phế quản, viêm họng và cho thuốc uống. Gần đây, cổ tôi lại có cảm giác bị vướng như có gì đó chặn ngang, khi ho hay hắt xì thì lại có cảm giác khó thở đó nữa, không đau, ăn uống và sức khỏe bình thường. Xin hỏi BS tôi bị bệnh gì? Nên đi khám ở đâu? Cám ơn BS nhiều!
(Nguyễn Thị Hương, 38 tuổi – Long An)

ho-la-bi-benh-gi
Ảnh minh họa

Đáp: Bạn Hương thân mến,
Với những triệu chứng bạn đang mắc phải như: ho, cảm giác khó thở, khàn tiếng... là những triệu chứng liên quan tới thanh quản, khí quản, phế quản có thể do viêm từ vùng mũi họng gây biến chứng xuống.

Nếu viêm họng, bạn hay cảm giác vướng họng, ho, cảm giác khó chịu như có dị vật trong họng...

Nếu có thương tổn thanh quản sẽ gây: khó thở khi hít vào, thở có tiếng rít, khó thở chậm...

Nếu có viêm khí, phế quản sẽ gây đau rát ngực, có thể có sốt, ho, khạc đờm nhiều, khi phù nề khí phế quản nhiều sẽ gây khó thở cả khi hít vào và thở ra (không gây khàn tiếng).

Do đó, bạn hãy tới bệnh viện đa khoa khám và làm các kỹ thuật cận lâm sàng như: thử máu, xquang tim phổi... Khi xác định đúng tình trạng bệnh lý, bạn hãy điều trị tích cực nhé.

Theo thongtinbenh.com
Xem chi tiết…

Bị viêm khí quản nên ăn uống như thế nào

Do vấn đề về thời tiết có những sự thay đổi đột ngột, dẫn đến bệnh lý viêm khí quản thường gặp, hoặc do cảm lạnh, hút thuốc lá, hít phải nhiều bụi ...
Bên cạnh việc sử dụng thuốc điều trị thì ngoài ra việc ăn uống ra sao để tăng hiệu quả chữa bệnh cũng là một điều khá quan trọng

an-uong-khi-viem-khi-quan

Cháo rau diếp cá: Diếp cá 30g, gạo lức 50g. Rửa sạch diếp cá, đổ nước vừa đủ, đun sôi cho gạo đã đãi sạch vào nấu thành cháo. Ăn nóng, ngày 2 lần, cứ 10 ngày là một liệu trình.

Cháo thịt ngỗng: Thịt ức ngỗng 100g, nấm mèo 25g, thịt chân giò chín 15g, hành 5g, gừng tươi 5g, rượu 10g, muối tinh 7g, bột ngọt 2g, dầu thơm vani 25g, nước luộc thịt ngỗng 1 lít, tiêu bột 2g, gạo nếp 100g. Cắt nhỏ thịt ức ngỗng như hạt gạo, nấm, thịt chân giò cũng cắt nhỏ như hạt lựu, gạo nếp đãi sạch cho vào nồi đất, cho nước thịt ngỗng vào nấu, đến khi gạo nở thì cho thịt ngỗng và các thứ vào nấu thành cháo đặc mới cho dầu thơm vani, rắc bột tiêu vào là được. Ngày ăn 1 bát, chia 2 - 3 lần ăn.
Cháo trai: Trai khô 25g, thịt gà 50g, rượu 15g, nấm mèo 50g, muối tinh 5g, mỡ lợn 25g, gạo te 100g, gừng, hành, bột tiêu vừa đủ. Các thứ làm sạch, chế biến xong cho gạo vào nồi với trai khô, thịt gà, nước 1,5 lít nấu thành cháo. Cháo chín cho mỡ lợn, muối, gừng, hành, hạt tiêu vào, đun qua, quấy đều là được. Ngày ăn 1 bát chia 2 lần.

Cháo lê: Quả lê 500g, ý dĩ nhân 100g, đường phèn 100g. Rửa sạch ý dĩ nhân, ngâm nước, vớt ra để ráo. Lê bỏ hạt, cắt thành quân cờ, cho cả ba thứ vào nồi với 1 lít nước nấu thành cháo. Ngày ăn 1 bát chia 2 lần ăn lúc nóng.

Cháo gừng tươi, sơn trà: Lá sơn trà 15g, gừng tươi 15g, gạo lức 100g, dầu vani, muối vừa đủ. Gạo đãi sạch, gừng thái lát, cho cùng lá sơn trà với nước vừa đủ đun thành cháo rồi cho dầu vani, bột ngọt là được. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo vỏ quýt: Vỏ quýt tươi 30g, gạo lức 50 - 100g. Rửa sạch vỏ quýt, đổ nước vừa đủ, nấu lấy nước, bỏ bã rồi cho gạo đã vo sạch, nấu cháo loãng. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo đình lịch tử (hạt đay): Hạt đay 10g, gạo lức 100g. Sao hạt đay đến khi thơm, để nguội, cho nước đun cô đặc, bỏ bã, cho gạo đã vo sạch, thêm nước vừa đủ, nấu cháo. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo hạt mã đề: Hạt mã đề 15g, gạo lức 50g. Dùng vải bọc hạt mã đề, cho vào nồi đất, cho thêm 200ml nước, nấu còn 100ml, bỏ túi thuốc, cho gạo đã đãi sạch, thêm 400ml nước nấu cháo loãng. Ngày ăn 2 lần lúc cháo nóng.

Canh cá diếc, hạnh nhân: Cá diếc 1 con, hạnh nhân 10g, đường đỏ vừa đủ. Làm sạch cá diếc cho vào nồi cùng hạnh nhân và đường. Dùng nồi đất, nước vừa đủ đun chín nhừ là được. Ăn cá, uống canh.

Canh bách hợp: Bách hợp 100g, đường trắng 50g. Rửa sạch bách hợp cho vào nồi cùng đường trắng, nước vừa đủ, đun khoảng 1 giờ thấy chín nhừ là được. Ăn trong ngày. Tác dụng: bổ âm, dưỡng phế, bổ tâm, trừ phiền.

Canh cải nấu đậu phụ, táo tàu: Cải trắng khô 100g, đậu phụ 50g, táo tàu 10 quả, dầu thực vật, muối tinh vừa đủ. Các thứ chế biến rửa sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, ninh chín, cho dầu, muối vào là được. Ăn kèm trong bữa ăn.

Canh phổi lợn nấu lá chanh: Lá chanh 15g, phổi lợn 150 - 200g. Rửa sạch, cho hai thứ vào nồi, đổ nước vừa đủ đun chín thì cho gia vị là được. Ăn phổi, uống canh.

Canh hải sâm, ngân nhĩ: Ngân nhĩ 10g, hải sâm ngâm nở 150g, nước 1lít, rượu trắng, muối, bột ngọt vừa đủ. Cho ngân nhĩ cùng hải sâm vào nồi, cho nước đun sôi một lúc rồi vớt ra để ráo nước. Dùng một nồi khác đổ 250ml nước và rượu, muối, bột ngọt cùng ngân nhĩ, hải sâm vào, đun sôi thì đun nhỏ lửa khoảng 1 giờ, múc ra vài bát nhỏ. Lại đổ 750ml nước vào nồi khác, cho rượu, bột ngọt, đun sôi, hớt bọt rồi múc vào bát đựng ngân nhĩ, hải sâm. Ăn trong ngày.

Chè bách hợp, mã thầy: Bách hợp 15g, mã thầy 10g, tuyết lê 1 quả, đường phèn vừa đủ. Mã thầy bóc vỏ giã nát; lê gọt vỏ, bỏ lõi, thái nhỏ. Tất cả 4 thứ cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, đun to lửa tới sôi, chuyển đun nhỏ lửa tới khi đặc sánh là được. Uống trong ngày tùy ý.

Nước táo, cam thảo: Táo tàu 8 quả, cam thảo tươi 6g. Hai thứ rửa sạch, cho vào nồi, đổ nước 800ml, đun nhỏ lửa còn 400ml, vớt bỏ bã. Uống hằng ngày.
Xem chi tiết…

Dấu hiệu bệnh viêm thanh khí phế quản ở trẻ nhỏ

Bệnh viêm thanh khí phế quản cấp, (trong y khoa còn gọi là Croup). Đây là một bệnh lý viêm nhiễm cấp tính vùng hạ thanh môn do siêu vi trùng, làm cho bé bị thở rít, khàn tiếng hay ho khan.

be-bi-ho
Bé bị ho (ảnh minh họa)

Những trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp thường khởi đầu bằng những triệu chứng của cảm như ho, sổ mũi, sốt nhẹ, sau đó 1 – 3 ngày bắt đầu có triệu chứng khàn giọng, khó thở, thở rít, nhất là vào lúc thời tiết trở lạnh như giữa đêm. Lứa tuổi thường mắc phải bệnh này là dưới 5 tuổi, do đường thở hẹp nên khi viêm nhiễm gây phù nề làm cho đường dẫn khí càng trở nên chít hẹp hơn, gây nên triệu chứng khó thở.

Nhận diện viêm thanh khí phế quản cấp

Có thể nhận biết trẻ có bị viêm thanh khí phế quản cấp hay không bằng cách dựa vào các triệu chứng điển hình của bệnh như:

- Tiếng thở rít thì hít vào: bạn quan sát trẻ thở sẽ thấy mỗi lần hít vào trẻ phát ra âm thanh như tiếng rít, nghe thô ráp.

- Ho khan

- Khàn tiếng

- Khó thở, mức độ khó thở nhiều hay ít sẽ tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

Nhận diện các dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đi bệnh viện ngay:

Cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất ngay khi có một trong các dấu hiệu sau đây:

- Thở nhanh, có thể xác định bằng cách đếm nhịp thở của trẻ thấy ≥ 50 nhịp/ phút

- Khó ngủ, bứt rứt và đổ mồ hôi

- Màu môi trở nên tái nhợt

- Phần mô cơ ở 2 bên cổ hay ở giữa các xương sườn lõm xuống mỗi khi trẻ cố gắng hít thở

Một điều cần lưu ý là các triệu chứng của viêm thanh khí phế quản cấp có thể trùng lắp với một số bệnh cảnh khác như dị vật đường thở, viêm nắp thanh môn, vì vậy cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện khi thấy có các biểu hiện: sốt cao, thở mệt, khò khè nhất là khi thở ra, khó nuốt hoặc đột ngột ho sặc sụa

Chăm sóc trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp tại nhà

Không phải tất cả trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp đều phải nhập viện điều trị. Nếu trẻ không có các dấu hiệu nguy hiểm đã nêu và tiếng thở rít chỉ xuất hiện khi khóc thì trẻ vẫn có thể điều trị ngoại trú tại nhà và tái khám theo lịch hẹn. Khi đó, cần lưu ý chăm sóc trẻ tại nhà theo hướng dẫn sau:

- Thường xuyên cho trẻ uống nước

- Nếu trẻ sốt cao hoặc đau họng, có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt và giảm ho

Tăng độ ẩm trong không khí có thể sẽ làm trẻ cảm thấy dễ chịu hơn. Bạn có thể đặt trẻ trong bồn tắm nước ấm hoặc dùng vòi hoa sen, và dĩ nhiên là bạn phải luôn luôn để mắt đến trẻ.

BS Như Huỳnh
Xem chi tiết…

Tìm hiểu nguyên nhân gây ho có đờm và sốt kéo dài


ho_co_dom
Ba tôi bị ho và sốt kéo dài nhiều ngày. Ho có đờm và thường  sốt về chiều ba tôi có uống kháng sinh liều cao, uống thuốc giảm sốt, đã chụp phổi bác sĩ nói bình thường , amedan hơi sưng, viêm khí -phê quản mãn tính.Bác sĩ có thể cho tôi biết nguyên nhân được không?

Trả lời: 
Ho thường do những bệnh của đường hô hấp, nhưng cũng có khi ho do bệnh ở ngoài đường hô hấp, mời bạn tham khảo các triệu chứng đi kèm với các tiệu chứng đó là các bệnh sau:

Ho do viêm họng cấp: Ho có đờm hoặc ho khan, sốt cao, có khi không sốt. Nuốt vướng, có cảm giác rát họng. Họng đỏ, có hạt hoặc có mủ. Amidan có thể sưng.

Viêm thanh quản: Ho khan. Nói khàn hoặc mất tiếng. Bệnh bạch hầu thanh quản tiếng ho ông ổng. Thể trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Có màng trắng ở họng, gây khó thở, nhiều khi phải mở khí quản.

Viêm khí quản, phế quản cấp: Sốt cao, giai đoạn đầu ho khan, giai đoạn sau có đờm. Đờm đặc hoặc loãng, màu trắng hoặc vàng. Điều trị sớm sẽ mau khỏi.

Viêm phế quản mạn: Thường gặp ở người hút thuốc lá (75%). Ho có nhiều đờm, mỗi năm ho khạc 3 tháng, trong vòng hai năm liền. Bệnh hay tái phát do những đợt bội nhiễm hoặc tiếp xúc với các tác nhân gây viêm như không khí lạnh, độ ẩm cao, hít phải hơi độc.

Giãn phế quản: Ho nhiều về buổi sáng, có rất nhiều đờm. Để đờm vào cốc, thấy lắng thành 3 lớp: dưới là mủ, giữa là chất nhày, lớp trên cùng là bọt lẫn dịch. Giãn phế quản có khi ho ra máu. Hay tái phát do đợt bội nhiễm.

Hen phế quản: Thường gặp ở lứa tuổi trẻ và trung niên. Người bệnh không sốt. Khó thở từng cơn, cơn hay gặp về ban đêm, trong lúc khó thở thấy tiếng rít cò cử. Sau cơn bệnh nhân ho và khạc ra nhiều đờm trắng, loãng. Hay tái phát nhiều lần do bội nhiễm, khi đó thì đờm có màu vàng.

Viêm phổi: Sốt cao, rét run, đau ngực, ho có đờm quánh, dính, màu rỉ sắt. Bạch cầu trong máu tăng cao. Chụp Xquang phổi có hình ảnh viêm phổi.

Lao phổi: Sốt hâm hấp về chiều, người gầy, sút cân, chán ăn. Ho dai dẳng, ra đờm đặc, có khi lẫn máu hoặc ho ra máu tươi. Tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm.

Áp-xe phổi: Sốt cao, đau ngực. Ho khan hoặc có đờm. Khi ổ áp-xe vỡ thông vào phế quản thì ho ra nhiều đờm như mủ, mùi tanh hoặc rất thối.

Bệnh bụi phổi: Gặp ở người tiếp xúc với bụi ở công trường, hầm mỏ, làm đường, công nhân nhà máy dệt, may, xi-măng... Bệnh nhân ho kéo dài, ra đờm màu đen, đục. Những đợt bội nhiễm thì ho tăng hơn. Bệnh kéo dài, ảnh hưởng đến toàn thân.

Bệnh màng phổi: Viêm màng phổi có dịch, ho do màng phổi bị kích thích, ho khi thay đổi tư thế.

Ung thư phế quản: Gặp ở người già, người hút thuốc lá. Người bệnh gầy sút nhanh, ăn uống kém, đau ngực, ho ra máu. U chèn ép nhiều gây khó thở, xẹp phổi. Cần phải chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực để xác định.

Về điều trị: Việc quan trọng là phải điều trị nguyên nhân, nhưng điều trị triệu chứng ho và làm cho đờm thoát ra ngoài lại rất cần thiết. Thuốc ho có nhiều loại: thuốc có tác dụng trên trung ương (trung tâm hô hấp như: dextromethorphan, mocphin, codein) và các thuốc làm tan đờm, lỏng đờm (tecpin). Tuy nhiên các thuốc này cũng có những tác dụng phụ hoặc tai biến. Các thuốc trung ương gây ức chế trung tâm hô hấp, không nên dùng cho người già, trẻ em, người có viêm phế quản mạn tính, đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính người suy hô hấp. Thuốc codein không dùng cho người táo bón và thận trọng cho người bị hen, v.v... Tùy theo từng trường hợp ho cụ thể mà các bác sĩ sẽ có quyết định.

Tóm lại, thuốc ho phải dùng với liều lượng tối thiểu, cần dùng đúng liều cho trẻ em, người cao tuổi, phải phối hợp với điều trị bệnh chính. Chú ý không được tự ý dùng một cách tùy tiện, mà phải có sự chỉ định của bác sĩ.


Chúc bạn và gia đình sức khỏe!
Xem chi tiết…

Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ MRI trong chẩn đoán ung thư khí quản



Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hay còn gọi là mri là kỹ thuật hình ảnh sử dụng từ trường và sóng tần số radio để ghi hình một cách chi tiết các cấu trúc bên trong của cơ thể và cho hình ảnh chất lượng cao với độ phân giải và tương phản tốt để cho các bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh lý một cách chính xác

MRI có thể được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân để quan sát lượng nước bên trong các cấu trúc bên tỏng của cơ thể. Ảnh cộng hưởng từ hạt nhân dựa trên một hiện tượng vật lý đó là hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân. Đây là một kỹ thuật chẩn đoán y khoa tạo ra hình ảnh giải phẩu của cơ thể nhờ sử dụng từ trường và sóng radio MRI đã được ứng dụng vào Việt Nam từ năm 1996 , các thế hệ máy lúc đó hoạt động rất chậm nhiều khi phải mất cả tiếng đồng hồ nhưng cho đến nay, sau nhiều cải tiến thì phương pháp MRI này đã có tốc độ cải thiện hơn rất nhiều (chụp toàn thân trong 15-30 phút).
MRI có thể sử dụng để kiểm tra gần như mọi cơ quan trong cơ thể. Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị trong việc chụp ảnh chi tiết não hoặc dây cột sống u khí quản.....

MRI có thể đem lại những hình ảnh 3 chiều, bác sĩ có thể nắm được thông tin về địa điểm, những thương tổn, những thông tin như vậy rất có giá trước khi phẫu thuật chẳng hạn như tiểu phẫu não.

Chuẩn bị

Bệnh nhân (BN)có thể ăn uống như bình thường.

Mang theo các phim ảnh đã chụp trước kia (như Xquang, siêu âm, MRI, CT) kèm theo kết quả, giúp bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đánh giá tình trạng của bạn.

Do trong quá trình chụp sẽ sử dụng từ trường mạnh nên tất cả các vật dụng bằng kim loại bệnh nhân đang mang (như răng giả, vòng tránh thai...) cần phải lấy ra trước khi vào phòng chụp MRI.

BN nữ được yêu cầu không trang điểm vùng mắt khi chụp MRI cho não vì có thể ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh.

Những trường hợp chống chỉ định

Chống chỉ định ở BN đang sử dụng máy điều hòa nhịp tim.

BN đang sử dụng cấy ốc tai không thể chụp MRI.

Những BN đang sử dụng các clip chữa phình mạch não, stent trong động mạch chủ, bơm truyền dịch và các thiết bị kích thích thần kinh... cũng không được thực hiện chụp MRI.

Chụp MRI thường không được chỉ định cho các trường hợp có thai dưới 3 tháng, trừ khi được chỉ định bởi bác sĩ giới thiệu hoặc bác sĩ chẩn đoán hình ảnh rằng chụp MRI là một thủ thuật y khoa cần thiết và lợi ích từ khảo sát này lớn hơn rủi ro. Điều này cũng có nghĩa là không có phương pháp kiểm tra nào khác có thể cho những thông tin tương tự như chụp MRI đối với trường hợp này.

Quy trình chụp MRI

• BN sẽ được cung cấp và đề nghị thay quần áo thoải mái, nằm lên bàn máy và được đưa vào khung máy. Phần cơ thể cần kiểm tra được chỉnh nằm chính giữa khoang máy. Một thiết bị, giống một cuộn dây, giúp nâng cao chất lượng hình ảnh, có thể sẽ được đặt lên trên vùng cần kiểm tra.

• Bạn sẽ biết quá trình chụp đang được thực hiện khi nghe tiếng rung. Điều quan trọng nhất là bạn cần phải nằm im tuyệt đối. Cử động sẽ làm hình ảnh cần chụp bị mờ. Thông thường, có bốn hoặc năm hình thức chụp MRI và mỗi loại mất khoảng 2-8 phút để hoàn thành. Toàn bộ quy trình thực hiện khoảng 20 phút.

Chất tương phản (Gadolinium)

Một số BN chụp MRI có thể cần phải được tiêm chất tương phản (Gadolinium ) vào tĩnh mạch, giúp nhìn thấy các thương tổn rõ hơn trên hình ảnh MRI, nâng cao độ chính xác của khảo sát và phát hiện nhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư. Chất tương phản này không phải là chất phóng xạ.

Hầu hết các trường hợp tiêm chất tương phản đều không có biến chứng. Tương tự như các thủ thuật y khoa khác, có những rủi ro gắn với việc đưa bất kì chất gì vào cơ thể, bao gồm cả chất tương phản. Khi chất tương phản được tiêm vào cơ thể, bạn sẽ cảm thấy mát lạnh và cảm giác thuốc đang lan tỏa trong vòng một hai phút và điều đó hoàn toàn bình thường. Một số BN có thể cảm thấy vị the lạnh trong miệng hoặc số ít BN có tác dụng phụ như buồn nôn và đau cục bộ. Rất hiếm BN bị dị ứng với chất tương phản và có thể bị phát ban, ngứa mắt hoặc một vài phản ứng khác. Nếu có triệu chứng dị ứng, hãy thông báo ngay với kỹ thuật viên. Những phản ứng rất nhỏ này chỉ xảy ra đối với 0.05% các trường hợp.

Hiện nay, đã có ghi nhận về tình trạng xơ hóa hệ thống có nguồn gốc từ thận như là một biến chứng của chụp MRI. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm, nhiều khả năng xảy ra khi tiêm gadolinium liều cao cho BN bị suy thận nặng.
Đáng nói, không có cách nào để biết được ai bị dị ứng với chất tương phản cho đến khi được tiêm vào cơ thể.
Xem chi tiết…

Nội thông khí quản và những điều cần biết


Khi nào phải nội thông khí quản ?

Mở các đường hô hấp trên trong trường hợp tắc (phù, khối u, bệnh lý thanh quản) ;
bảo vệ các đường dẫn khí đối với sự hít dich dạ dày (hôn mê, ngộ độc thuốc, bệnh thần kinh-cơ) ;
vệ sinh phế quản trong trường hợp ứ tiết quan trọng (làm dễ hút khí quản) ;
làm dễ sự thông khí cơ học (hay thất bại của thông khí không xâm nhập (VNI).

Quyết định nội thông khí quản thường khó khăn, bởi vì không có tiêu chuẩn tuyệt đối.

Ta xét đồng thời những tiêu chuẩn lâm sàng : trạng thái tinh thần, mức độ ứ tiết phế quản, tình trạng huyết động, những dấu hiệu mệt (cảm giác chủ quan của bệnh nhân, khó thở khách quan, sử dụng các cơ phụ...) và những dấu hiệu khí huyết động mạch.

Trong trường hợp suy bơm (pump failure), những tiêu chuẩn là PaCO2 và pH (nhiễm toan hô hấp với nhiễm toan huyết). Nhiễm toan huyết (acidémie) là một chỉ dấu đáng tin cậy hơn tăng thán huyết (hypercapnie). Trong trường hợp suy phổi (lung failure), điều quan trọng đó là mức độ nghiêm trọng của giảm oxy-huyết (hypoxémie).

Điều rất quan trọng là đánh giá tiến triển trong thời gian của các tham số lâm sàng và khí huyết này. Quyết định nội thông khí quản sẽ sớm hơn trong trường hợp tiến triển không thuận lợi.

Vài bệnh nhân vẫn tỉnh táo và cộng tác mặc dầu một pCO2 rất cao.

Những nhu cầu của một can thiệp ngoại khoa sắp xảy ra dĩ nhiên cũng có thể ảnh hưởng quyết định.

Đặc biệt ta cố gắng tránh nội thông khí quản trong hai trường hợp :

hiện tượng tạm thời, mà sự điều chỉnh có thể nhanh (thí dụ phù phổi huyết động, sử dụng morphinique quá mức.
bệnh lý của người bị suy giảm miễn dịch, ở bệnh nhân này nguy cơ nhiễm trùng rất là quan trọng.

Ngược lại, ta đo dự ít hơn trong những trường hợp sau đây :

tiến triển lâm sàng hướng về sự thoái biến.
choáng tuần hoàn hay suy tim nặng ;
vấn để thần kinh hay ngoại thần kinh (nguy cơ thoái biến quan trọng trong trường hợp giảm oxy huyết và/hoặc tăng thán huyết) ;
ngoại trừ hạn chế vì lý đó đạo đức ;
can thiệp ngoại khoa được dự kiến trong một thời gian ngắn.

ĐƯỜNG NỘI THÔNG KHÍ QUẢN

a/ Đường miệng được ưa thích hơn :

dễ thực hiện hơn lúc cấp cứu (phải luôn luôn được ưa thích hơn lúc cấp cứu, ngoại trừ trường hợp vỡ xương mặt) ;
cho phép đưa vào một ống nội thông khí quản tương đối lớn (0,5 đến 1mm lớn hơn bằng đường mũi).

b/ Đường mũi có thể có 3 ưu điểm :

đảm bảo một sự thoải mái hơn cho bệnh nhân.
làm dễ sự duy trì vệ sinh miệng ;
đảm bảo một sự cố định ống nội thông ổn định hơn.


Nhưng đường nội thông này tạo nhiều vấn đề :

đường kính của ống nội thông nhỏ hơn
nguy cơ xuất huyết khi nội thông ;
nguy cơ viêm xoang.

Vì những lý do này đường mũi hầu như bị bỏ.

Loại và kích thước của ống nội thông

Để giảm thiểu những thương tổn do nội thông khí quản, các ống nội thông khí quản có những ballonnet thể tích lớn và áp lực thấp khi được bơm phồng với lượng khí tối thiểu.

Ở trẻ em ống nội thông khí quản không có ballonnet.

Đường kính của ống phải lớn chừng nào có thể được để tránh những yếu tố cản khí (duy trì nhưng lưu lượng khí cao, ngăn cản tắc do các dịch tiết và làm dễ sự cai thông khí cơ học).

Những kích thước của ống nội thông khí quản là :

người trưởng thành : đường kính 8, 8,5 hay 9 mm tùy theo sự vạm vỡ của bệnh nhân ;
trẻ em : đường kính bằng đường kính của ngón tay út, hay được xác định bởi công thức : tuổi/4 + 4
Xem chi tiết…