Tìm hiểu nguyên nhân gây ho có đờm và sốt kéo dài


ho_co_dom
Ba tôi bị ho và sốt kéo dài nhiều ngày. Ho có đờm và thường  sốt về chiều ba tôi có uống kháng sinh liều cao, uống thuốc giảm sốt, đã chụp phổi bác sĩ nói bình thường , amedan hơi sưng, viêm khí -phê quản mãn tính.Bác sĩ có thể cho tôi biết nguyên nhân được không?

Trả lời: 
Ho thường do những bệnh của đường hô hấp, nhưng cũng có khi ho do bệnh ở ngoài đường hô hấp, mời bạn tham khảo các triệu chứng đi kèm với các tiệu chứng đó là các bệnh sau:

Ho do viêm họng cấp: Ho có đờm hoặc ho khan, sốt cao, có khi không sốt. Nuốt vướng, có cảm giác rát họng. Họng đỏ, có hạt hoặc có mủ. Amidan có thể sưng.

Viêm thanh quản: Ho khan. Nói khàn hoặc mất tiếng. Bệnh bạch hầu thanh quản tiếng ho ông ổng. Thể trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Có màng trắng ở họng, gây khó thở, nhiều khi phải mở khí quản.

Viêm khí quản, phế quản cấp: Sốt cao, giai đoạn đầu ho khan, giai đoạn sau có đờm. Đờm đặc hoặc loãng, màu trắng hoặc vàng. Điều trị sớm sẽ mau khỏi.

Viêm phế quản mạn: Thường gặp ở người hút thuốc lá (75%). Ho có nhiều đờm, mỗi năm ho khạc 3 tháng, trong vòng hai năm liền. Bệnh hay tái phát do những đợt bội nhiễm hoặc tiếp xúc với các tác nhân gây viêm như không khí lạnh, độ ẩm cao, hít phải hơi độc.

Giãn phế quản: Ho nhiều về buổi sáng, có rất nhiều đờm. Để đờm vào cốc, thấy lắng thành 3 lớp: dưới là mủ, giữa là chất nhày, lớp trên cùng là bọt lẫn dịch. Giãn phế quản có khi ho ra máu. Hay tái phát do đợt bội nhiễm.

Hen phế quản: Thường gặp ở lứa tuổi trẻ và trung niên. Người bệnh không sốt. Khó thở từng cơn, cơn hay gặp về ban đêm, trong lúc khó thở thấy tiếng rít cò cử. Sau cơn bệnh nhân ho và khạc ra nhiều đờm trắng, loãng. Hay tái phát nhiều lần do bội nhiễm, khi đó thì đờm có màu vàng.

Viêm phổi: Sốt cao, rét run, đau ngực, ho có đờm quánh, dính, màu rỉ sắt. Bạch cầu trong máu tăng cao. Chụp Xquang phổi có hình ảnh viêm phổi.

Lao phổi: Sốt hâm hấp về chiều, người gầy, sút cân, chán ăn. Ho dai dẳng, ra đờm đặc, có khi lẫn máu hoặc ho ra máu tươi. Tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm.

Áp-xe phổi: Sốt cao, đau ngực. Ho khan hoặc có đờm. Khi ổ áp-xe vỡ thông vào phế quản thì ho ra nhiều đờm như mủ, mùi tanh hoặc rất thối.

Bệnh bụi phổi: Gặp ở người tiếp xúc với bụi ở công trường, hầm mỏ, làm đường, công nhân nhà máy dệt, may, xi-măng... Bệnh nhân ho kéo dài, ra đờm màu đen, đục. Những đợt bội nhiễm thì ho tăng hơn. Bệnh kéo dài, ảnh hưởng đến toàn thân.

Bệnh màng phổi: Viêm màng phổi có dịch, ho do màng phổi bị kích thích, ho khi thay đổi tư thế.

Ung thư phế quản: Gặp ở người già, người hút thuốc lá. Người bệnh gầy sút nhanh, ăn uống kém, đau ngực, ho ra máu. U chèn ép nhiều gây khó thở, xẹp phổi. Cần phải chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực để xác định.

Về điều trị: Việc quan trọng là phải điều trị nguyên nhân, nhưng điều trị triệu chứng ho và làm cho đờm thoát ra ngoài lại rất cần thiết. Thuốc ho có nhiều loại: thuốc có tác dụng trên trung ương (trung tâm hô hấp như: dextromethorphan, mocphin, codein) và các thuốc làm tan đờm, lỏng đờm (tecpin). Tuy nhiên các thuốc này cũng có những tác dụng phụ hoặc tai biến. Các thuốc trung ương gây ức chế trung tâm hô hấp, không nên dùng cho người già, trẻ em, người có viêm phế quản mạn tính, đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính người suy hô hấp. Thuốc codein không dùng cho người táo bón và thận trọng cho người bị hen, v.v... Tùy theo từng trường hợp ho cụ thể mà các bác sĩ sẽ có quyết định.

Tóm lại, thuốc ho phải dùng với liều lượng tối thiểu, cần dùng đúng liều cho trẻ em, người cao tuổi, phải phối hợp với điều trị bệnh chính. Chú ý không được tự ý dùng một cách tùy tiện, mà phải có sự chỉ định của bác sĩ.


Chúc bạn và gia đình sức khỏe!
Xem chi tiết…

Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ MRI trong chẩn đoán ung thư khí quản



Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hay còn gọi là mri là kỹ thuật hình ảnh sử dụng từ trường và sóng tần số radio để ghi hình một cách chi tiết các cấu trúc bên trong của cơ thể và cho hình ảnh chất lượng cao với độ phân giải và tương phản tốt để cho các bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh lý một cách chính xác

MRI có thể được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân để quan sát lượng nước bên trong các cấu trúc bên tỏng của cơ thể. Ảnh cộng hưởng từ hạt nhân dựa trên một hiện tượng vật lý đó là hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân. Đây là một kỹ thuật chẩn đoán y khoa tạo ra hình ảnh giải phẩu của cơ thể nhờ sử dụng từ trường và sóng radio MRI đã được ứng dụng vào Việt Nam từ năm 1996 , các thế hệ máy lúc đó hoạt động rất chậm nhiều khi phải mất cả tiếng đồng hồ nhưng cho đến nay, sau nhiều cải tiến thì phương pháp MRI này đã có tốc độ cải thiện hơn rất nhiều (chụp toàn thân trong 15-30 phút).
MRI có thể sử dụng để kiểm tra gần như mọi cơ quan trong cơ thể. Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị trong việc chụp ảnh chi tiết não hoặc dây cột sống u khí quản.....

MRI có thể đem lại những hình ảnh 3 chiều, bác sĩ có thể nắm được thông tin về địa điểm, những thương tổn, những thông tin như vậy rất có giá trước khi phẫu thuật chẳng hạn như tiểu phẫu não.

Chuẩn bị

Bệnh nhân (BN)có thể ăn uống như bình thường.

Mang theo các phim ảnh đã chụp trước kia (như Xquang, siêu âm, MRI, CT) kèm theo kết quả, giúp bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đánh giá tình trạng của bạn.

Do trong quá trình chụp sẽ sử dụng từ trường mạnh nên tất cả các vật dụng bằng kim loại bệnh nhân đang mang (như răng giả, vòng tránh thai...) cần phải lấy ra trước khi vào phòng chụp MRI.

BN nữ được yêu cầu không trang điểm vùng mắt khi chụp MRI cho não vì có thể ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh.

Những trường hợp chống chỉ định

Chống chỉ định ở BN đang sử dụng máy điều hòa nhịp tim.

BN đang sử dụng cấy ốc tai không thể chụp MRI.

Những BN đang sử dụng các clip chữa phình mạch não, stent trong động mạch chủ, bơm truyền dịch và các thiết bị kích thích thần kinh... cũng không được thực hiện chụp MRI.

Chụp MRI thường không được chỉ định cho các trường hợp có thai dưới 3 tháng, trừ khi được chỉ định bởi bác sĩ giới thiệu hoặc bác sĩ chẩn đoán hình ảnh rằng chụp MRI là một thủ thuật y khoa cần thiết và lợi ích từ khảo sát này lớn hơn rủi ro. Điều này cũng có nghĩa là không có phương pháp kiểm tra nào khác có thể cho những thông tin tương tự như chụp MRI đối với trường hợp này.

Quy trình chụp MRI

• BN sẽ được cung cấp và đề nghị thay quần áo thoải mái, nằm lên bàn máy và được đưa vào khung máy. Phần cơ thể cần kiểm tra được chỉnh nằm chính giữa khoang máy. Một thiết bị, giống một cuộn dây, giúp nâng cao chất lượng hình ảnh, có thể sẽ được đặt lên trên vùng cần kiểm tra.

• Bạn sẽ biết quá trình chụp đang được thực hiện khi nghe tiếng rung. Điều quan trọng nhất là bạn cần phải nằm im tuyệt đối. Cử động sẽ làm hình ảnh cần chụp bị mờ. Thông thường, có bốn hoặc năm hình thức chụp MRI và mỗi loại mất khoảng 2-8 phút để hoàn thành. Toàn bộ quy trình thực hiện khoảng 20 phút.

Chất tương phản (Gadolinium)

Một số BN chụp MRI có thể cần phải được tiêm chất tương phản (Gadolinium ) vào tĩnh mạch, giúp nhìn thấy các thương tổn rõ hơn trên hình ảnh MRI, nâng cao độ chính xác của khảo sát và phát hiện nhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư. Chất tương phản này không phải là chất phóng xạ.

Hầu hết các trường hợp tiêm chất tương phản đều không có biến chứng. Tương tự như các thủ thuật y khoa khác, có những rủi ro gắn với việc đưa bất kì chất gì vào cơ thể, bao gồm cả chất tương phản. Khi chất tương phản được tiêm vào cơ thể, bạn sẽ cảm thấy mát lạnh và cảm giác thuốc đang lan tỏa trong vòng một hai phút và điều đó hoàn toàn bình thường. Một số BN có thể cảm thấy vị the lạnh trong miệng hoặc số ít BN có tác dụng phụ như buồn nôn và đau cục bộ. Rất hiếm BN bị dị ứng với chất tương phản và có thể bị phát ban, ngứa mắt hoặc một vài phản ứng khác. Nếu có triệu chứng dị ứng, hãy thông báo ngay với kỹ thuật viên. Những phản ứng rất nhỏ này chỉ xảy ra đối với 0.05% các trường hợp.

Hiện nay, đã có ghi nhận về tình trạng xơ hóa hệ thống có nguồn gốc từ thận như là một biến chứng của chụp MRI. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm, nhiều khả năng xảy ra khi tiêm gadolinium liều cao cho BN bị suy thận nặng.
Đáng nói, không có cách nào để biết được ai bị dị ứng với chất tương phản cho đến khi được tiêm vào cơ thể.
Xem chi tiết…

Nội thông khí quản và những điều cần biết


Khi nào phải nội thông khí quản ?

Mở các đường hô hấp trên trong trường hợp tắc (phù, khối u, bệnh lý thanh quản) ;
bảo vệ các đường dẫn khí đối với sự hít dich dạ dày (hôn mê, ngộ độc thuốc, bệnh thần kinh-cơ) ;
vệ sinh phế quản trong trường hợp ứ tiết quan trọng (làm dễ hút khí quản) ;
làm dễ sự thông khí cơ học (hay thất bại của thông khí không xâm nhập (VNI).

Quyết định nội thông khí quản thường khó khăn, bởi vì không có tiêu chuẩn tuyệt đối.

Ta xét đồng thời những tiêu chuẩn lâm sàng : trạng thái tinh thần, mức độ ứ tiết phế quản, tình trạng huyết động, những dấu hiệu mệt (cảm giác chủ quan của bệnh nhân, khó thở khách quan, sử dụng các cơ phụ...) và những dấu hiệu khí huyết động mạch.

Trong trường hợp suy bơm (pump failure), những tiêu chuẩn là PaCO2 và pH (nhiễm toan hô hấp với nhiễm toan huyết). Nhiễm toan huyết (acidémie) là một chỉ dấu đáng tin cậy hơn tăng thán huyết (hypercapnie). Trong trường hợp suy phổi (lung failure), điều quan trọng đó là mức độ nghiêm trọng của giảm oxy-huyết (hypoxémie).

Điều rất quan trọng là đánh giá tiến triển trong thời gian của các tham số lâm sàng và khí huyết này. Quyết định nội thông khí quản sẽ sớm hơn trong trường hợp tiến triển không thuận lợi.

Vài bệnh nhân vẫn tỉnh táo và cộng tác mặc dầu một pCO2 rất cao.

Những nhu cầu của một can thiệp ngoại khoa sắp xảy ra dĩ nhiên cũng có thể ảnh hưởng quyết định.

Đặc biệt ta cố gắng tránh nội thông khí quản trong hai trường hợp :

hiện tượng tạm thời, mà sự điều chỉnh có thể nhanh (thí dụ phù phổi huyết động, sử dụng morphinique quá mức.
bệnh lý của người bị suy giảm miễn dịch, ở bệnh nhân này nguy cơ nhiễm trùng rất là quan trọng.

Ngược lại, ta đo dự ít hơn trong những trường hợp sau đây :

tiến triển lâm sàng hướng về sự thoái biến.
choáng tuần hoàn hay suy tim nặng ;
vấn để thần kinh hay ngoại thần kinh (nguy cơ thoái biến quan trọng trong trường hợp giảm oxy huyết và/hoặc tăng thán huyết) ;
ngoại trừ hạn chế vì lý đó đạo đức ;
can thiệp ngoại khoa được dự kiến trong một thời gian ngắn.

ĐƯỜNG NỘI THÔNG KHÍ QUẢN

a/ Đường miệng được ưa thích hơn :

dễ thực hiện hơn lúc cấp cứu (phải luôn luôn được ưa thích hơn lúc cấp cứu, ngoại trừ trường hợp vỡ xương mặt) ;
cho phép đưa vào một ống nội thông khí quản tương đối lớn (0,5 đến 1mm lớn hơn bằng đường mũi).

b/ Đường mũi có thể có 3 ưu điểm :

đảm bảo một sự thoải mái hơn cho bệnh nhân.
làm dễ sự duy trì vệ sinh miệng ;
đảm bảo một sự cố định ống nội thông ổn định hơn.


Nhưng đường nội thông này tạo nhiều vấn đề :

đường kính của ống nội thông nhỏ hơn
nguy cơ xuất huyết khi nội thông ;
nguy cơ viêm xoang.

Vì những lý do này đường mũi hầu như bị bỏ.

Loại và kích thước của ống nội thông

Để giảm thiểu những thương tổn do nội thông khí quản, các ống nội thông khí quản có những ballonnet thể tích lớn và áp lực thấp khi được bơm phồng với lượng khí tối thiểu.

Ở trẻ em ống nội thông khí quản không có ballonnet.

Đường kính của ống phải lớn chừng nào có thể được để tránh những yếu tố cản khí (duy trì nhưng lưu lượng khí cao, ngăn cản tắc do các dịch tiết và làm dễ sự cai thông khí cơ học).

Những kích thước của ống nội thông khí quản là :

người trưởng thành : đường kính 8, 8,5 hay 9 mm tùy theo sự vạm vỡ của bệnh nhân ;
trẻ em : đường kính bằng đường kính của ngón tay út, hay được xác định bởi công thức : tuổi/4 + 4
Xem chi tiết…

Hẹp khí quản và những điều cần biết

khi_quan
Khí quản hẹp gồm hẹp subglottic, là bị hẹp hoặc co thắt khí quản. Hầu hết các trường hợp hẹp khí quản phát triển khi mô sẹo phát triển trong khí quản của một người do đặt nội khí quản kéo dài - khi một ống thở được chèn vào khí quản để giúp duy trì hơi thở trong một thủ tục y tế - hay từ một khí quản, mà là một phẫu thuật để tạo ra một mở ở cổ để truy cập vào khí quản.

Hẹp khí quản cũng có thể phát triển từ một số nguyên nhân khác, bao gồm: chấn thương bên ngoài để cổ họng; một khối u lành tính hoặc ác tính cách nhấn vào khí quản; rối loạn tự miễn dịch nhất định (polychondritis, sarcoidosis, papillomatosis, amyloidosis, và u hạt Wegener); và nhiễm trùng. Nó cũng có thể phát triển như là một tác dụng phụ khi điều trị phóng xạ được sử dụng để điều trị một khối u trong đầu hoặc cổ.

Các triệu chứng của bệnh hẹp khí quản có thể bao gồm:

  • Khó thở hoặc khó thở
  • Ho, đôi khi có máu (được gọi là ho ra máu)
  • Thở khò khè
  • Tím, một âm thanh the thé âm nhạc mà xảy ra như hơi thở được rút ra trong, mà là do sự tắc nghẽn trong đường hô hấp
  • Nhiễm trùng đường hô hấp thường xuyên hoặc tái phát
Bởi vì chứng hẹp khí quản có thể phát triển chậm, các dấu hiệu và triệu chứng sớm có thể bị nhầm lẫn với một số bệnh khác, bao gồm cả khó khăn để điều trị bệnh hen suyễn ở người lớn.
Xem chi tiết…

Điều trị ung thư khí quản như thế nào ?

tb_ungthu
Tế bào ung thư( Ảnh minh họa)
Các bác sĩ tại  Sinai của ENT / Head và Trung tâm Ung thư cổ có kinh nghiệm trong việc lựa chọn điều trị thích hợp cho bệnh nhân có khối u ác tính và khí -phế quản.

Điều trị bao gồm phẫu thuật hoặc điều trị bronchoscopic, một mình hoặc kết hợp với xạ trị. Phương pháp điều trị khác, bao gồm cả phương pháp điều trị và phẫu thuật bronchoscopic giảm nhẹ, có thể giúp khôi phục lại hơi thở và sự tiến triển của khối u chậm ở những bệnh nhân không phải là ứng cử viên cho phẫu thuật cắt bỏ khối u.Hóa trị , thường kết hợp với xạ trị, là một lựa chọn điều trị cho những bệnh nhân có tế bào vảy lớn khối u khí quản.

Phẫu thuật

Phẫu thuật cắt bỏ khối u (cắt bỏ) là điều trị ưu tiên cho cả các khối u ác tính và lành tính giới hạn trong ít hơn một nửa của khí quản. Trong thủ tục này, bác sĩ phẫu thuật của bạn sẽ loại bỏ các khối u và một biên độ nhỏ (số tiền thêm) của mô lành xung quanh nó, sau đó kết nối các đầu của khí quản.
Phẫu thuật cắt bỏ khối u khí quản có thể phức tạp. Việc cung cấp máu đến khí quản là tinh tế và dễ dàng bị hư hỏng. Thiệt hại đối với việc cung cấp máu làm cho nó khó khăn hơn cho khí quản để chữa bệnh, làm tăng nguy cơ biến chứng. Núi Sinai Head và Phẫu thuật Trung tâm phẫu thuật cổ được huấn luyện đặc biệt trong kỹ thuật phẫu thuật để bảo tồn các nguồn cung cấp máu và giảm nguy cơ biến chứng, cải thiện cơ hội của một kết quả thành công.

Phương pháp điều trị Bronchoscopic

Bệnh nhân không phải là ứng cử viên cho giải phẫu có thể được hưởng lợi từ một số phương pháp điều trị có thể được cung cấp thông qua soi phế quản - một ống linh hoạt gắn liền với một máy ảnh nhỏ bé luồn qua miệng. Điều này thường được thực hiện kết hợp với soi phế quản cứng nhắc. Trong một số trường hợp,bronchoscopic phương pháp điều trị có thể làm giảm kích thước của khối u để nó có thể được phẫu thuật cắt bỏ.

Các phương pháp điều trị phổ biến nhất bao gồm bronchoscopic:

Mô khối u • Laser trị liệu. Đang bốc hơi với một chùm tia tập trung cao độ của ánh sáng để loại bỏ các khối u và mở các đường hàng không.

• Xịt phương pháp áp lạnh. Điều trị này liên quan đến việc áp dụng nitơ lỏng để các khối u, để vào tủ lạnh để các bác sĩ phẫu thuật có thể loại bỏ nó. Phun áp lạnh cũng có thể được sử dụng để ngăn chặn chảy máu ở những bệnh nhân ho ra máu hoặc trong quá trình loại bỏ khối u bronchoscopic.

• Phương pháp gieo. Đây là loại xạ trị sử dụng phế quản để giúp hướng dẫn bức xạ trực tiếp vào chỗ khối u, giảm thiểu thiệt hại đến các mô lân cận lành mạnh. Phương pháp gieo có thể được lựa chọn khi bệnh nhân không đủ điều kiện để xạ trị bên ngoài chùm.

• Liệu pháp quang động. Một ánh sáng mạnh sẽ kích hoạt một loại hóa chất cảm quang được áp dụng cho các khối u, phá hủy mô bất thường khi gây thiệt hại tối thiểu cho các mô xung quanh.

• Argon chùm đông máu. Tương tự như điều trị bằng laser, điều trị này sử dụng điện và khí argon trong sự kết hợp với các phương pháp điều trị khác để giết bronchoscopic mô khối u.

• Coring cứng. Thủ tục giảm nhẹ này bao gồm chèn soi phế quản cứng nhắc vào khí quản và đẩy nó qua trung tâm của khối u để mở đường thở. Coring cứng nhắc, mà thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp điều trị bronchoscopic khác, có thể có hiệu quả cao.

Khối u ở đường dẫn khí lớn có thể được quản lý với các kỹ thuật tương tự, bao gồm cả phẫu thuật cắt bỏ, vị trí stent đường hàng không, và phương pháp điều trị bronchoscopic.

Xạ trị

Xạ trị có thể được sử dụng để:
Bệnh nhân điều trị ung thư có liên quan đến hơn 50 phần trăm của khí quản
Bệnh nhân điều trị mà khối u đã lan đến các hạch bạch huyết gần đó hoặc các khu vực khác trong ngực
Bệnh nhân điều trị, sức khỏe yếu hơn bình thường
Dùng cho bệnh nhân có u nang VA, những người có thể được điều trị bằng xạ trị đơn thuần hoặc sau khi phẫu thuật.

Bức xạ bên ngoài chùm , trong đó một chùm bức xạ được phân phối từ một nguồn bên ngoài để các trang web khối u, là loại chính của xạ trị được sử dụng để điều trị bệnh nhân có khối u khí quản. Brachyterhapy - một hình thức bản địa của xạ trị - có thể được sử dụng để điều trị bệnh nhân không phải là ứng cử viên cho xạ trị bên ngoài chùm.

Nguồn: mountsinai.org
Xem chi tiết…

Đặt canuyn khí quản

Sau khi thực hiện mở khí quản các bác sĩ thường đặt một dụng cụ được gọi là Canuyn khí quản việc lắp đặt dụng cụ này sẽ giúp cho người bệnh có thể nói và hô hấp dễ dàng hơn

 
canuyn_khi_quan
Canuyn khí quản

Sử dụng Canuyn hai nòng có cửa sổ tập nói.
Ngay sau khi mở khí quản cho người bệnh, các bác sĩ thường đặt canuyn loại 1 nòng, có bóng chèn. Canuyn mở khí quản loại này tiện dụng, chi phí thấp, lắp vào thở máy đơn giản. Hơn nữa, canuyn có bóng chèn giúp thở máy hiệu quả và ngăn đờm từ mũi họng tràn xuống phổi giây viêm phổi nặng hơn, đồng thời bóng chèn cũng có vai trò cầm máu tốt sau khi mở khí quản.

Canuyn mở khí quản loại này có nhược điểm là chỉ có một nòng nên việc vệ sinh canuyn khó khăn, thời gian lưu canuyn ngắn ,canuyn không có cửa sổ nên người bệnh khi giai đoạn ổn định không thể tập nói được.

Canuyn hai nòng có cửa sổ tập nói Shiley sẽ khắc phục được những nhược điểm trên, tuy giá thành 1 bộ canuyn cao, nhưng việc vệ sinh đơn giản, và hiệu quả trong việc tập nói nên có thể sử dụng lâu dài. Người bệnh giai đoạn ổn định, có thể ra viện nhưng vẫn phải lưu canuyn có thể dùng loại này. Sau đây là hướng dẫn sử dụng canuyn hai nòng có cửa sổ tập nói cho người bệnh dùng tại nhà

Đặt canuyn
Việc đặt canuyn, thay thế canuyn cần được thực hiện bởi bác sĩ/ điều dưỡng chuyên khoa, có kinh nghiệm. Việc thực hiện bởi những người không có kinh nghiệm có thể rất nguy hiểm khi rút canuyn cũ ra được mà không đặt lại được do tổ chức xơ hóa, dễ chảy máu, sẹo hẹp...
Hai lỗ ngang 2 bên để cố định bằng dây buộc đeo cổ thuận tiện.

Nòng trong Canuyn
Đây là canuyn hai nòng nên việc vệ sinh chỉ cần rút nòng ở trong ra và ngâm rửa trong dung dịch sát trùng. Tần suất vệ sinh canuyn phụ thuộc vào mức độ tiết đờm của người bệnh, khả năng ho khạc đờm...Việc này đơn giản, dễ dàng thực hiện được tại nhà.
Có thể tháo nòng đã dùng ra để vệ sinh và thay thế bằng nòng khác.

Nòng trong tập nói
Canuyn hai nòng có cửa sổ tập nói Shiley được thiết kế nhằm tạo thuận lợi cho sự phát âm của người bệnh.

Bản thân nòng ngoài của canuyn có cửa sổ ở bên mặt lưng. Nòng trong có 2 loại, một loại có cửa sổ và loại không có cửa sổ.

Khi muốn tập nói, chỉ cần đặt nòng trong có cửa sổ vào, nòng trong và ngoài sẽ khớp nhau tạo nên cửa sổ ở mặt lưng, đây chính là đường dẫn khí hợp với sinh lý con người. Người bệnh chỉ cần gắng sức phát âm, luồng khí từ phổi sẽ đi qua cửa sổ lên dây thanh giúp bệnh nhân nói được.

Lưu ý, khi tập nói thì người bệnh sẽ cần bịt lại đầu khí ra của canuyn, để dòng khí đi trực tiếp theo đường hợp sinh lý lên dây thanh. Thời gian đầu chỉ bịt khi tập nói, dần dần sẽ bịt lại được đầu canuyn và tự thở, tập nói theo đường sinh lý. Việc bịt đầu canuyn là an toàn vì đã có đường thông khí sinh lý đi qua cửa sổ canuyn.
Xem chi tiết…

Tổng quan về bệnh ung thư khí quản


Ung thư khí quản (cancer of the windpipe)

Đây là thông tin về một loại ung thư hiếm gặp được gọi là  ung thư khí quản
Hy vọng rằng những thông tin dưới đây sẽ giải đáp các thắc mắc và trả lời các câu hỏi của bạn

Tổng quan về khí quản 
Khí quản (windpipe) là các ống nối miệng và mũi đến phổi của bạn. Nó đi vào để phân chia thành hai đường hô hấp (phế quản phải và phế quản trái, cùng được gọi là phế quản), và cung cấp khí cho mỗi phổi.

Khí quản là ở cổ và nằm ở phía trước của thực quản (thực quản), trong đó lương thực đi xuống. Khí quản là khoảng 10-16cm (5-7in) dài và được tạo thành các vòng của khó khăn, mô sợi (sụn). Bạn có thể cảm thấy những nếu bạn chạm vào mặt trước của cổ.

ung_thu_khi_quan
Sơ đồ để thấy vị trí của khí quản

Ung thư khí quản 
Ung thư khí quản là rất hiếm và chỉ chiếm khoảng 0,1% (1 trong 1000) của tất cả các loại ung thư. Các loại phổ biến nhất của ung thư khí quản là ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô nang VA. Ung thư tế bào vảy bắt đầu trong các tế bào lót các phần khác nhau của cơ thể, chẳng hạn như đường hô hấp, miệng và cổ họng. Ung thư nang VA là hiếm và phát triển từ mô tuyến. Họ có thể phát triển ở các bộ phận khác nhau của cơ thể nhưng phổ biến hơn ở các khu vực đầu và cổ.

Nguyên nhân của ung thư khí quản
Chúng tôi không biết chính xác những gì gây ra ung thư khí quản. Đối với hầu hết mọi người là nguyên nhân chưa được biết rõ.

Tuy nhiên, hút thuốc được liên kết với ung thư tế bào vảy của khí quản. Đây là loại ung thư khí quản cũng phổ biến hơn ở nam giới trên 60 tuổi.

Không có bất kỳ bằng chứng liên quan ung thư biểu mô nang VA của khí quản do hút thuốc.Cũng giống như nhiều bệnh ung thư, nguyên nhân chưa được biết rõ. Tuy nhiên, có vẻ như ảnh hưởng đến những người đàn ông và phụ nữ bình đẳng và phổ biến hơn trong độ tuổi từ 40 và 60.
Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư khí quản

Các triệu chứng phổ biến nhất của ung thư khí quản là:
    Ho khan
    Khó thở
    Giọng nói khàn khàn
    Khó khăn trong việc nuốt
    Sốt, ớn lạnh và nhiễm trùng ngực mà giữ lại đến
    Ho ra máu
    Thở khò khè hoặc thở ồn ào.

    Những triệu chứng này thường xảy ra trong các điều kiện khác không phải ung thư. Tuy nhiên, điều quan trọng là để nói cho bác sĩ của bạn nếu bạn có bất cứ triệu chứng.

    Làm thế nào để chẩn đoán ung thư khí quản 
    Bác sĩ của bạn sẽ kiểm tra  vàsắp xếp cho các thử nghiệm cần thiết để chẩn đoán. Bạn sẽ được chuyển đến một bệnh viện chuyên khoa cho những thử nghiệm và để được tư vấn và điều trị chuyên môn.

    Các bác sĩ tại bệnh viện sẽ kiểm tra bạn, hãy hỏi bạn về tiền sử bệnh của bạn và lấy mẫu máu để kiểm tra sức khỏe tổng thể.

    Ung thư khí quản là hiếm gặp và khó chẩn đoán. Bệnh có thể bị nhầm lẫn với bệnh hen suyễn hoặc viêm phế quản, mà đôi khi dẫn đến sự chậm trễ trong chẩn đoán.

    Bạn có thể có một số các xét nghiệm sau đây để giúp chẩn đoán ung thư của bạn và tìm ra hay không ung thư đã lan rộng.

    • X-quang
    Các bác sĩ có thể mất một số x-quang để bắt đầu với, mặc dù bệnh ung thư khí quản có thể không luôn luôn hiển thị trên một x-ray.
    CT (chụp cắt lớp vi tính scan)

    Một CT scan có một loạt các x-quang mà xây dựng lên một hình ảnh ba chiều của các bên trong cơ thể. Việc quét là không đau và mất 10-30 phút. CT scan sử dụng một lượng nhỏ phóng xạ, đó là rất khó để làm hại bạn và sẽ không làm hại bất cứ ai bạn tiếp xúc với. Bạn sẽ được yêu cầu không ăn hoặc uống ít nhất bốn giờ trước khi chụp.

    Bạn có thể nhận được một thức uống hoặc tiêm một loại thuốc nhuộm, trong đó cho phép các khu vực đặc biệt trong cơ thể để được nhìn thấy rõ ràng hơn về quá trình quét. Đối với một vài phút, điều này có thể làm cho bạn cảm thấy nóng hơn cả. Nếu bạn dị ứng với iod hoặc có bệnh hen suyễn, bạn có thể có một phản ứng nghiêm trọng hơn để tiêm, vì vậy điều quan trọng là để cho bác sĩ của bạn biết trước.

    • MRI (chụp cộng hưởng từ) quét

    Thử nghiệm này là tương tự như một CT scan nhưng sử dụng từ tính thay vì x-quang để xây dựng lên một bức tranh chi tiết các khu vực của cơ thể của bạn. Trước khi quét, bạn có thể được yêu cầu để hoàn thành và ký một danh sách kiểm tra. Điều này là để đảm bảo rằng nó an toàn cho bạn để có một quét MRI.

    Trước khi quét, bạn sẽ được yêu cầu để loại bỏ bất kỳ đồ dùng kim loại bao gồm đồ trang sức. Một số người được tiêm thuốc nhuộm vào một tĩnh mạch ở cánh tay. Điều này được gọi là một phương tiện tương phản và có thể giúp các hình ảnh từ máy quét để hiển thị rõ ràng hơn. Trong các thử nghiệm, bạn sẽ được yêu cầu nằm im trên một chiếc ghế dài bên trong một hình trụ dài (tube) trong khoảng 30 phút. Nó là không đau nhưng có thể hơi khó chịu, và một số người cảm thấy một chút sợ phòng kín trong quá trình quét. Nó cũng ồn ào, nhưng bạn sẽ nhận được các nút tai hoặc tai nghe.

    • Nội soi phế quản

    Một ống mỏng, dẻo được truyền miệng hoặc mũi của bạn để kiểm tra khí quản. Bạn sẽ được yêu cầu không ăn hay uống bất cứ thứ gì trong một vài giờ trước khi nó. Chỉ cần trước khi thử nghiệm có thể được cho thuốc an thần nhẹ để giúp bạn thư giãn và để làm giảm cảm giác khó chịu.

    Một khi bạn cảm thấy thoải mái, gây tê cục bộ sẽ được phun vào mặt sau của cổ họng của bạn, làm cho nó tê liệt.

    Các phế quản sau đó nhẹ nhàng thông qua vào mũi hay miệng của bạn và xuống vào khí quản. Các bác sĩ có thể xem xét thông qua soi phế quản để kiểm tra xem có bất kỳ bất thường. Hình ảnh và sinh thiết có thể được thực hiện cùng một lúc.

    Xét nghiệm này có thể hơi khó chịu nhưng chỉ mất một vài phút. Bạn không nên ăn hoặc uống ít nhất một giờ sau đó, vì cổ họng của bạn sẽ bị tê liệt.

    Ngay sau khi các thuốc an thần đã mòn đi, bạn sẽ có thể về nhà. Bạn không nên lái xe trong vòng 24 giờ sau khi thử nghiệm và nên sắp xếp cho một người nào đó để thu thập các bạn từ bệnh viện nếu có thể, bạn có thể cảm thấy buồn ngủ. Bạn có thể bị đau cổ họng trong một vài ngày sau khi thử nghiệm của bạn, nhưng điều này sẽ sớm biến mất.

    • Soi phế quản trực tiếp

    Soi phế quản trực tiếp đôi khi được sử dụng để giúp bác sĩ đưa ra kế hoạch hoặc điều trị. Nó có thể giúp họ nhìn thấy các khối u rõ hơn và giữ cho khí quản ổn định trong suốt quá trình. Bạn sẽ có một chất gây mê tổng quát và bạn có thể phải ở lại bệnh viện qua đêm.

    Các kết quả của các xét nghiệm này sẽ giúp các chuyên gia quyết định vào loại điều trị tốt nhất cho bạn.

    Phân loại ung thư khí quản

    Các giai đoạn của ung thư là một thuật ngữ dùng để mô tả kích thước của nó và có hay không nó đã lan rộng ra khỏi vị trí ban đầu của nó. Biết loại đặc biệt và giai đoạn của ung thư sẽ giúp các bác sĩ quyết định điều trị thích hợp nhất cho bạn.

    Giai đoạn TNM (viết tắt của các từ khối u/hạch/di căn  - tumor/nodes/metastasis)

    Hệ thống giai đoạn thường được sử dụng nhất cho ung thư được gọi là hệ thống TNM:
    T đề cập đến kích thước hoặc vị trí của t umour chính (nơi ung thư đầu tiên bắt đầu trong cơ thể).
    N đề cập tới mà các hạch bạch huyết bị ảnh hưởng, nếu có
    M đề cập đến hay không ung thư đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể (metastases).

    Các T, N và M thường sẽ có số gắn liền với mô tả chi tiết. Ví dụ, một khối u T1 có thể rất nhỏ và chỉ trong một lớp mô, trong khi một khối u T4 có thể lớn hơn và lây lan qua một số lớp mô.

    Các chi tiết chính xác của T, N và M sẽ phụ thuộc vào loại ung thư.
    Hệ thống dàn số

    Ngoài giai đoạn TNM, có thể bạn sẽ nghe các bác sĩ sử dụng một hệ thống số dàn dựng.Thường có ba hay bốn giai đoạn số đối với từng loại ung thư.

    Giai đoạn 1 mô tả một bệnh ung thư ở giai đoạn sớm khi nó thường có kích thước nhỏ và chưa lan rộng, trong khi giai đoạn 4 mô tả bệnh ung thư ở giai đoạn nặng hơn khi nó đã thường lây lan đến các bộ phận khác của cơ thể. Giai đoạn 2 và 3 đang ở giữa các giai đoạn.

    Các giai đoạn số được tạo thành từ sự kết hợp khác nhau của các giai đoạn TNM. Vì vậy, một bệnh ung thư giai đoạn 1 có thể được mô tả như là một trong hai T1, N0, M0 hoặc T2, N0, M0.

    Giai đoạn số lượng cũng có thể được chia nhỏ để cung cấp thông tin chi tiết hơn về kích thước khối u và lan rộng. Ví dụ, một bệnh ung thư giai đoạn 3 có thể được chia thành giai đoạn 3a, 3b giai đoạn và giai đoạn 3c. Một bệnh ung thư giai đoạn 3b có thể khác nhau từ một bệnh ung thư giai đoạn 3a trong hoặc kích thước khối u hoặc ung thư đã lan đến các hạch bạch huyết.

    Phân loại đề cập đến sự xuất hiện của các tế bào ung thư dưới kính hiển vi và đưa ra một ý tưởng về cách ung thư có thể  xử lý

    Cấp thấp có nghĩa là các tế bào ung thư trông tương tự như các tế bào bình thường. Cao cấp có nghĩa là các tế bào trông bình thường hơn. Một khối u cấp thấp thường sẽ tăng trưởng chậm hơn và ít có khả năng lây lan hơn một khối u cao cấp.

    Điều trị ung thư khí quản
    Điều trị của bạn sẽ phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm cả sức khỏe của bạn nói chung, vị trí và kích thước của các bệnh ung thư và liệu nó đã lan rộng bất cứ nơi nào khác trong cơ thể. Các phương pháp điều trị chính cho ung thư khí quản là phẫu thuật và xạ trị. Họ có thể đưa ra một mình hoặc kết hợp.

    Hóa trị thường được đưa ra để làm giảm triệu chứng. Điều này được gọi là hóa trị giảm nhẹ. Điều trị của bạn thường sẽ được thực hiện tại một trung tâm điều trị ung thư chuyên gia. Nếu bạn đang gặp phải phẫu thuật, bạn sẽ được vận hành bởi một bác sĩ phẫu thuật chuyên khoa phẫu thuật phổi và ngực.

    Phẫu thuật
    Đầu năm, ung thư nhỏ một hoạt động có thể loại bỏ hoàn toàn khối u. Đây là chuyên ngành phẫu thuật và chỉ được thực hiện tại các trung tâm chuyên khoa. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp quá nhiều về độ dài của khí quản bị ảnh hưởng để loại bỏ khối u và tái tham gia các đầu cắt của khí quản.

    Cũng như loại bỏ các bệnh ung thư, các bác sĩ phẫu thuật cũng thường loại bỏ một số tìm kiếm các mô lành xung quanh nó (được biết đến như là một lợi rõ ràng). Mô này được nhìn trong phòng thí nghiệm để xem nếu có bất kỳ tế bào ung thư có. Nếu nó có chứa các tế bào ung thư, điều này có nghĩa là có hoạt động khác để loại bỏ mô hơn.

    Sau khi hoạt động của bạn, bạn có thể được chăm sóc tại một đơn vị phụ thuộc cao hoặc chăm sóc đặc biệt cho một vài ngày. Bạn sẽ có một vết thương ở cổ mà cách cắt (rạch) đã được thực hiện và một ống thoát nước để loại bỏ bất kỳ chất lỏng dư thừa trong máu hoặc trong khu vực. Cho đến khi bạn có thể uống đúng cách, bạn sẽ có được thông qua một chất lỏng nhỏ giọt (truyền). Bạn sẽ phải thường xuyên uống thuốc giảm đau để đảm bảo rằng bất kỳ sự khó chịu hoặc đau đang được kiểm soát. Các y tá sẽ giúp bạn có được và về ngay sau khi quý vị có đủ. Điều này sẽ giúp giữ cho chuyển động tuần hoàn của bạn và ngăn ngừa các biến chứng như các cục máu đông.

    Sau khi phẫu thuật, khí quản của bạn sẽ hơi ngắn hơn, do đó bạn sẽ được khuyến khích không phải căng đầu ra sau một thời gian sau khi hoạt động của bạn. Sau khi phẫu thuật, bạn sẽ được nhìn thấy thường xuyên bởi một vật lý trị liệu, những người sẽ giúp bạn tập thở và ho ra đờm bất kỳ (đờm). Bạn có thể ho ra một số đờm vấy máu cho một vài ngày sau khi hoạt động.

    Xạ trị có thể được đưa ra sau khi phẫu thuật để cố gắng làm giảm nguy cơ ung thư tái phát trở lại. Nó cũng có thể được thực hiện nếu có bất kỳ tế bào ung thư còn sót lại sau các hoạt động.

    Xạ trị

    Xạ trị sử dụng năng lượng cao x-quang để tiêu diệt các tế bào ung thư, trong khi có rất ít tác hại nhất có thể để các tế bào bình thường.

    Nó có thể được sử dụng riêng của mình để chữa trị những người bị sớm, ung thư cấp thấp của khí quản người không thể có phẫu thuật. Xạ trị cũng được đưa ra sau khi phẫu thuật để giảm nguy cơ ung thư tái phát trở lại (tá dược xạ trị) hoặc để làm giảm triệu chứng (xạ trị giảm đau).

    Xạ trị thường được đưa ra bởi các mục tiêu năng lượng cao x-quang ở khí quản từ một máy xạ trị. Điều này được gọi là tia xạ trị bên ngoài. Bạn thường phải điều trị thứ hai-thứ sáu, với một phần còn lại vào cuối tuần. Việc điều trị có thể được trao cho 3-7 tuần. Chiều dài của thời gian nó đưa ra cho phụ thuộc vào loại ung thư mà bạn có và kích thước của nó. Xạ trị để kiểm soát các triệu chứng (gọi là xạ trị giảm đau) thường được đưa ra trong một khoảng thời gian ngắn.

    • Tác dụng phụ của xạ trị
    Vấn đề trong việc nuốt
    Sau 2-3 tuần điều trị, vấn đề chính bạn đang có khả năng để thông báo là  khó nuốt Điều này xảy ra bởi vì xạ trị có thể gây ra tình trạng viêm ở cổ họng của bạn (thực quản). Bạn cũng có thể bị ợ nóng và khó tiêu

    Hãy cho bác sĩ của bạn nếu bạn có bất cứ phản ứng phụ, vì chúng có thể cung cấp cho bạn các loại thuốc để giúp đỡ. Nếu bạn không cảm thấy thích ăn hoặc có vấn đề với việc nuốt, bạn có thể thay thế bữa ăn với, thức uống giàu năng lượng bổ dưỡng. Đây là có sẵn từ các nhà hóa học nhất và một số có thể được quy định bởi bác sĩ.

    Mệt mỏi
    Xạ trị có thể làm cho bạn cảm thấy rất  mệt mỏi Hãy thử để có được càng nhiều phần còn lại như bạn có thể, đặc biệt là nếu bạn phải đi một chặng đường dài để điều trị.

    Thay đổi da
    Một số người phát triển một phản ứng tương tự như da bị cháy nắng. Da nhợt nhạt có thể bị đỏ và đau hoặc ngứa. Da sẫm màu có thể phát triển một chút màu xanh hoặc đen. Bạn sẽ được tư vấn về cách chăm sóc làn da của bạn.

    Rụng tóc
    Tóc bạn sẽ rụng trong quá trình xạ trị, nhưng nó thường mọc trở lại một lần nữa sau khi điều trị.

    Cảm giác ốm (buồn nôn)
    Bác sĩ có thể kê toa thuốc chống, mà qua đos sẽ giúp giảm cảm giác buồn nôn

    Hầu hết các tác dụng phụ sẽ biến mất dần dần một lần điều trị của bạn là hơn, nhưng điều quan trọng là để cho bác sĩ của bạn nếu họ tiếp tục.

    Hóa trị

    Hóa trị là việc sử dụng các thuốc chống ung thư (gây độc tế bào) để tiêu diệt các tế bào ung thư. Họ làm việc bằng cách phá vỡ sự phát triển của tế bào ung thư. Hóa trị thường được sử dụng để giúp kiểm soát bệnh ung thư hoặc các triệu chứng của nó (hóa trị giảm nhẹ).Thuốc hóa trị liệu có thể được sử dụng là cisplatin hoặc carboplatin

    Hóa trị là rất hiếm khi được sử dụng cho các bệnh ung thư nang VA của khí quản.

    Kiểm soát các triệu chứng
    Các phương pháp điều trị sau đây có thể được sử dụng để làm giảm triệu chứng nếu khối u đang chặn đường thở của bạn và làm cho nó khó khăn cho bạn để thở. Một số người có thể có một sự kết hợp của các phương pháp điều trị. Chuyên khoa sẽ tư vấn cho bạn mà phương pháp điều trị thích hợp cho bạn.

    Xạ trị (brachytherapy)

    Xạ trị ( brachytherapy) có thể được sử dụng để mở thông đường thở và giảm các triệu chứng của bạn.

    Một ống mỏng được đặt bên trong khí quản của bạn bằng cách sử dụng phế quản. Một nguồn phóng xạ sau đó được đặt bên trong ống này gần khối u. Nó lại tại chỗ cho một vài phút để cho việc điều trị và sau đó được loại bỏ. Việc điều trị không đau đớn. Bạn thường chỉ cần một phiên điều trị nhưng nó có thể được lặp đi lặp lại nếu cần thiết.

    Có thường không nhiều tác dụng phụ từ loại điều trị này. Bạn có thể tìm thấy bạn có bị ho và sản xuất ra nhiều đờm (đờm) trong một thời gian.

    Laser điều trị

    Laser điều trị làm giảm các triệu chứng bằng cách đốt khối u với một ánh sáng laser. Nó được thực hiện dưới gây mê toàn thân. Một nội soi phế quản | được thực hiện trong khi bạn đang ngủ, và một sợi linh hoạt được đưa qua soi phế quản để nhằm mục đích chùm tia laser vào khối u. Các chùm tia là nhằm vào các khối u và tiêu diệt càng nhiều càng tốt.Không có bất kỳ tác dụng phụ thường và bạn có thể về nhà vào ngày hôm sau hoặc buổi tối cùng ngày.

    Điều trị này có thể được lặp đi lặp lại, nếu cần thiết. Đôi khi xạ trị được đưa ra cũng như để cố gắng làm cho những lợi ích của việc điều trị kéo dài.

    Phương pháp áp lạnh
    Phương pháp áp lạnh sử dụng nitơ lỏng, mà là cực kỳ lạnh, đóng băng và phá hủy các tế bào ung thư. Nó được thực hiện dưới gây mê toàn thân. Sử dụng phế quản, các bác sĩ đặt một dụng cụ gọi là cryoprobe gần khối u. Nitơ lỏng sau đó được lưu thông qua thăm dò để tiêu diệt các phần của khối u. Các bác sĩ di chuyển đầu dò xung quanh cho đến khi đủ của các khối u đã được loại bỏ để cải thiện các triệu chứng của bạn.

    Không có nhiều tác dụng phụ thường với phương pháp áp lạnh. Bạn có thể tìm thấy bạn ho ra đờm nhiều hơn cho một vài ngày sau khi điều trị.
    Phép thấu nhiệt liệu

    Điện nhiệt cũng được biết đến như đốt điện. Điều này được thực hiện thông qua soi phế quản. Các bác sĩ sử dụng một đầu dò được làm nóng bởi một dòng điện để tiêu diệt các tế bào ung thư và giảm các triệu chứng. Có thường không nhiều tác dụng phụ khi điều trị này.

    Liệu pháp quang động (PDT)
    Liệu pháp quang động (PDT) sử dụng laser, hoặc các nguồn ánh sáng khác, kết hợp với một loại thuốc nhạy cảm ánh sáng để tiêu diệt các tế bào ung thư. Các loại thuốc nhạy cảm ánh sáng được cho là một chất lỏng vào tĩnh mạch. Sau khi chờ đợi cho thuốc được đưa lên bởi các tế bào ung thư, ánh sáng laser được hướng vào các khối u bằng soi phế quản.Điều này bắt đầu thuốc để tiêu diệt các tế bào ung thư.

    PDT sẽ làm cho bạn tạm nhạy cảm với ánh sáng và bạn sẽ cần phải tránh ánh sáng cho giữa một vài tuần và vài tháng, tùy thuộc vào loại thuốc photosensitising được sử dụng.Chuyên gia sẽ cho bao lâu bạn nên tránh ánh sáng cho. Tác dụng phụ khác bao gồm sưng, viêm, khó thở và ho.

    PDT là một điều trị tương đối mới và chỉ có sẵn ở một số trung tâm. Nó không thích hợp cho tất cả mọi người. Bác sĩ của bạn có thể cung cấp cho bạn thêm thông tin về điều này.

    Sử dụng ống thở

    Đôi khi đường thở có thể bị thu hẹp . Điều này đôi khi có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng một thiết bị nhỏ gọi là stent, được đặt bên trong đường thở. Các stent thường được sử dụng nhất là một khung dây nhỏ. Nó được đưa vào phế quản ở một vị trí chính xác lại và khi nó đi ra khỏi phế quản nó mở ra, giống như một chiếc ô.

    Stent đường thở thường được đặt ở dưới gây mê toàn thân. Khi bạn thức dậy, bạn thường sẽ không cảm thấy nó và bạn sẽ có thể thở dễ dàng hơn. Các stent có thể ở trong khí quản của bạn vĩnh viễn. Tác dụng phụ của một stent đường hô hấp có thể có nhiễm trùng, tắc nghẽn với chất nhờn và kích ứng đường hô hấp. Điều này có thể gây ho và khó thở.

    Theo dõi sau khi điều trị ung thư khí quản

    Bạn sẽ phải thường xuyên kiểm tra sức khỏe một lần điều trị của bạn đã hoàn thành.Những thường sẽ tiếp tục trong nhiều năm, thường xuyên hơn trước và sau đó ít thường xuyên hơn. Nếu bạn có bất kỳ vấn đề hoặc nhận thấy bất kỳ triệu chứng giữa thăm, hãy cho bác sĩ biết.

    Ổn định tâm lý
    Bạn có thể có nhiều khác nhau cảm xúc bao gồm cả sự tức giận, oán giận, cảm giác tội lỗi, lo âu và sợ hãi. Đây là tất cả những phản ứng bình thường, và là một phần của quá trình nhiều người đã trải qua

    Mọi người đều có cách riêng của họ để đối phó với những tình huống khó khăn này. Một số người sẽ nói chuyện với gia đình hoặc bạn bè, trong khi những người khác thích để tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người bên ngoài tình trạng của họ.

    Tài liệu tham khảo

    Macchiarini P. Primary tracheal tumours. Lancet Oncology. 2006. 7: 83-91.
    Myers, et al. Cancer of the head and neck. 4th edition. 2003. WB Saunders.
    UpToDate. www.uptodate.com (accessed September 2012).
    Webb, et al. Primary Tracheal malignant neoplasms. Journal of the American College of Surgeons. 2006. 202 (2): 237-246.
    http://www.macmillan.org.uk/
    Xem chi tiết…