Để hạt quất rơi vào khí quản con sống thực vật

Khi thấy bé Nguyễn Trọng T (15 tháng tuổi ) lên cơn co giật, mẹ của bé vội vàng lấy quất vắt vào miệng, không may hạt quất rơi vào khí quản khiến bé bị ngộp thở và gần như phải sống thực vật với những di chứng não và tình trạng nhiễm trùng rất nặng

Chanh và quất không có tác dụng chống do giật
Cháu Nguyễn Trọng T (huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp nặng, da tím tái. Các bác sĩ bệnh viện Nhi đồng 1 đã gắp ra một hạt tắc rơi vào phế quản phải – nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy hô hấp và di chứng não khiến cháu phải sống đời sống thực vật.

Qua lời kể của người thân trong gia đình, các bác sĩ được biết khi bé bị co giật, mẹ của bé đã nặn trực tiếp quả quất vào miệng bé để chống co giật. Không may, hạt quất rơi vào khí quản khiến bé bị suy hô hấp, phải đưa vào một phòng khám đa khoa gần nhà để cấp cứu. Dù đã được đặt nội khí quản nhưng do tình trạng quá nặng nên phòng khám đã chuyển bé đến bệnh viện Nhi đồng 1 để điều trị. Các bác sĩ Nhi đồng 1 đã gắp được hạt tắc ra khỏi khí quản phải nhưng do não thiếu oxy quá lâu nên đã dẫn đến tình trạng cháu bé bị di chứng não, phải sống đời sống thực vật. Đồng thời, cháu T cũng đang rơi vào tình trạng nhiễm trùng phổi do dị vật gây nên.

Ths.Bs Trần Ngọc Hạnh Đan, khoa Nhiễm – Thần kinh, bệnh viện Nhi đồng 1 cho rằng, theo quan niệm dân gian, một số phụ huynh khi thấy con lên cơn co giật thường nặn chanh hoặc quất vào miệng trẻ. Thế nhưng việc nặn trái quất hay chanh vào miệng em bé không những không có tác dụng khi trẻ bị co giật mà ngược lại còn vô cùng nguy hiểm. Vì trong cơn co giật, trẻ không có phản xạ ho sặc sụa để đẩy dị vật ra khỏi đường thở. Trong cơn co giật thì phản xạ này sẽ giảm hoặc mất đi nên dị vật rơi vào đường thở rất dễ dàng.

Theo bác sĩ Hạnh Đan, khi trẻ lên cơn co giật tại nhà. Đầu tiên, các phụ huynh nên cho trẻ nằm trên mặt bằng theo tư thế nghiêng 1 bên, quay mặt trẻ ra ngoài để có thể quan sát được biểu hiện của trẻ. Ở tư thế này, đàm nhớt trong miệng trẻ dễ dàng chảy ra ngoài, có thể lấy khăn lau sạch cho trẻ, tránh trào ngược vào đường thở. Tiếp theo, cha mẹ có thể lấy một cây đè lưỡi bằng gỗ hoặc nhựa để đặt vào giữa hai hàm răng của trẻ. Sau đó, trẻ nên được đưa đến cơ sở y tế khám chữa bệnh gần nhất để sơ cấp cứu. Tuyệt đối không vắt chanh, quất vào miệng trẻ vì những chất này hoàn toàn không có tác dụng chống co giật.

Theo Lao động
Xem chi tiết…

Lưu ý với bệnh chấn thương khí quản

khi_quan
Khí quản
Những bệnh liên quan đến chấn thương khí quản xảy ra do cơ thể bị thiếu oxi và kèm theo tràn khí, tràn máu trong lồng ngực, và có thể gây ra các tai biến nghiêm trọng

Nguyên nhân

Vùng cổ: thường gặp trong chấn thương hở vùng cổ nhưng cũng có thể gặp trong chấn thương kín do bị đập, xiết cổ quá mạnh.

Vùng ngực: ngoài chấn thương hở, còn gặp chấn thương do xương ức ép mạnh vào cột sống hoặc do cú dội ngược.

Triệu chứng

Lâm sàng

Tràn khí là dấu hiệu cần được phát hiện ngay khi có chấn thương. Tràn khí có thể rõ, lan tỏa nhanh nhưng cũng có thể ít, kín đáo, có khi chỉ xuất hiện khi gây mê bóp bóng.

Tràn khí có thể dưới da, sờ thấy lép bép, nếu rõ gây biến dạng vùng cổ, cằm, mặt, ngực.

Tràn khí màng phổi trong rách khí quản ngực có thể chỉ thấy bóng khí ở trung thất, quanh tim, đỉnh phổi và có thể làm xẹp một phần hoặc cả một thuỳ phổi.

Khó thở: có khó thở cả 2 thì, rõ hơn ở thì thở ra nếu chấn thương vùng ngực hoặc thì thở vào nếu có kèm theo chấn thương thanh quản. Khó thở có thể ở mức độ nhẹ đến trung bình hay nặng và ngày càng tăng dần.

Ho: đau tăng khi ho, ho thành cơn, có thể ho sặc, khó thở tím tái rõ rệt.

X - quang: cho thấy được hình ảnh tràn khí vùng cổ hay ngực, mức độ tràn khí, nhưng thường khó xác định được vùng chấn thương. C.T.Scan có thể cho thấy được hình ảnh tổn thương đầy đủ hơn.

Nội soi: là cần thiết để xác định được vị trí và tính chất tổn thương nhưng cần hết sức thận trọng vì có thể làm chấn thương nặng thêm và gây khó thở nặng.

Xử trí

Cấp cứu

Khi có thủng, rách, vỡ sụn khí quản hoặc khi có tình trạng khó thở, đe dọa chảy máu vào đường thở, có tràn khí rõ.

Cần phải:

Mở khí quản cấp cứu, nếu cho phép nên mở khí quản thấp, xa vết thương để duy trì sự thông thoáng của ống thở.

Chống sốc, chống chảy máu.

Nội khoa

Nằm đầu cao, hạn chế thay đổi tư thế đầu.

Corticoid sớm để giảm phù nề, tranh sẹo dính.

Kháng sinh.

Giảm xuất tiết đường hô hấp để phòng tránh viêm đường hô hấp dưới.

Tiêm SAT (chống uốn ván).

Ngoại khoa

Tuỳ theo tình trạng vết thương, đảm bảo nguyên tắc:

Khâu kín vết thủng hoặc rách vỡ.

Tiết kiệm trong cắt bỏ các phần bị rách, vỡ.

Khâu từng lớp theo đúng vị trí giải phẫu và nút buộc luôn ở mặt ngoài.

Lấp cố định bằng cân , cơ, niêm mạc và nếu thiếu có thể di chuyên lấy từ nơi khác tới.

Đặt ống nong đỡ với các loại ống Aboulker hay Montgomery và để lâu dài.

Nếu đứt rời hay dập nát vòng sụn thì cắt bỏ và thực hiện khâu nối khí quản tận-tận.

Cố định cử động cổ ít nhất 1 tuần.

Theo dõi

Sau khi rút ống thở cần theo dõi định kỳ trong vài tháng tiếp theo để phát hiện sớm các hiện tượng sùi, sẹo, chít hẹp.

Nguồn điều trị
Xem chi tiết…

Ung Thư Hạch Bạch Huyết (Lymphoma)

Những bệnh ung thư bắt đầu từ hệ thống hạch bạch huyết được gọi là các u lympho. Có hai loại chính là: u lympho Hodgkin và u lympho không Hodgkin. Mặc dù đó là hai loại u lympho, vẫn có sự khác nhau giữa chúng, vì thế việc điều trị cũng khác nhau


I- U LYMPHO HODGKIN (HODGKIN LYMPHOMA)

Bệnh u lympho Hodgkin được bác sĩ Thomas Hodgkin mô tả lần đầu tiên năm 1832
Bệnh Hodgkin là một trong các loại lymphoma (ung thư hạch bạch huyết), là ung thư có nguồn gốc từ hệ bạch huyết.
Ung thư hạch bạch huyết gồm hai loại chính: Hodgkin và Không-Hodgkin.
Hệ thống bạch huyết là một phần trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Hệ thống miễn dịch này có nhiệm vụ chống lại các bệnh lý nhiễm trùng cùng các loại bệnh lý khác.
Hệ bạch huyết có 2 thành phần chính:
- Mạng lưới các mạch bạch huyết.
- Các hạch bạch huyết: có kích thước từ vài mm đến hơn 1 cm, thường xếp thành nhóm. Hạch bạch huyết là nơi khống chế và loại trừ những vi sinh vật cùng các chất nguy hại cho cơ thể.

Hệ bạch huyết còn là mạng lưới gồm nhiều mạch bạch huyết, phân nhánh tương tự mạch máu, đi vào các mô ở khắp cơ thể.


H1-Hệ bạch huyết

Mạch bạch huyết dẫn bạch huyết, một chất lỏng không màu sắc, chứa những tế bào lympho, hiện diện khắp cơ thể. Trong mạng lưới này, có những bộ phận nhỏ gọi là hạch bạch huyết. Các hạch bạch huyết là các hạt nhỏ nằm khắp cơ thể. Mỗi hạch có kích thước từ đầu đinh ghim đến bằng hạt đậu, thường xếp thành nhóm hay chuỗi hạch. Từng nhóm hạch bạch huyết nằm trong nách, hai bên bẹn, cổ, ngực, và ổ bụng.


H2- Hạch bạch huyết vùng đầu cổ

Ngoài các hạch bạch huyết, lá lách, tuyến hung (thymus), amidan và tủy xương là những thành phần khác của hệ bạch huyết. Dạ dày, hỗng tràng và da cũng có những tế bào và mô bạch huyết.


H3- Lymphom Hodgkin trong lách

Tế bào lymphô nằm trong hạch bạch huyết, nếu sự phát triển bị rối loạn và trở thành ung thư, thì gọi là ung thư nguyên phát tại hạch. Phân biệt với hạch do ung thư di căn.
Các tế bào lymphô ác tính không chỉ hiện diện ở các hạch bạch huyết mà còn ở những nơi khác.


H4- Tế bào Reed-Sternberg

Hạch thường xuất hiện đầu tiên ở hố thượng đòn bên trái (gấp 6 lần nhiều hơn bên phải), kích thước có thể nhỏ như hạt táo nhưng cũng có thể to bằng quả cam. Lúc đầu các hạch mọc riêng rẽ nên dễ nắn, giới hạn rõ rệt. Về sau các hạch có thể dính vào thành từng đám. Hạch ít khi bị loét gây nên lỗ rò ngoài da. Hạch thường không đau và khá chắc.
Bệnh thường gặp ở người lớn, tiến triển thành từng đợt. Mỗi đợt người bệnh thường bị sốt, ngứa và có số lượng hạch tăng nhiều hơn. Xét nghiệm máu có thể thấy tăng bạch cầu ái toan.


H5- Lymphoma Hodgkin vùng cổ

Cần chú ý tìm hạch ở nội tạng như trung thất , mạc treo. Trường hợp bệnh khởi đầu bằng các hạch to ở trung thất thì rất khó chẩn đoán, vì có khi cần phải chờ đến những đợt tiến triển kế tiếp để hạch xuất hiện ở ngoại vi.
Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết hạch, thấy có hình thái đa dạng tế bào và nhất là tìm thấy tế bào Sternberg.


H6- Tế bào Reed-Sternberg

U lymphô (lymphôm) gồm 2 dạng chính là lymphôm Hodgkin và lymphôm không Hodgkin. Ung thư hạch loại không Hodgkin nhiều gấp 5 lần loại Hodgkin.

Khi bị ung thư Hodgkin, các tế bào trong hệ bạch huyết trở nên bất thường, chúng sinh sôi nảy nở rất nhanh và sinh sản vô trật tự. Hệ bạch huyết hiện diện ở nhiều cơ quan, bộ phận của cơ thể, do đó khi ung thư bạch huyết xuất hiện, nó có thể xuất hiện tại bất cứ vị trí nào của cơ thể.
Bệnh Hodgkin có thể khởi phát từ một hay nhiều hạch bạch huyết, hoặc từ một bộ phận chứa hạch bạch huyết như lá lách hoặc tủy xương. Loại ung thư này thường phát triển từ nhóm hạch bạch huyết này sang nhóm hạch kế cận. Ví dụ, bệnh Hodgkin khởi phát từ hạch bạch huyết ở cổ sẽ lan đến những hạch bạch huyết ở vùng lân cận như vùng xương đòn, sau đó lan đến những hạch bạch huyết dưới nách và lồng ngực. Cuối cùng, bệnh sẽ lan rộng đến khắp cơ thể.

A. Các yếu tố gia tăng nguy cơ bị bệnh Hodgkin:

Tuy nguyên nhân gây bệnh Hodgkin chưa biết rõ, cũng đã xác định được một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh:
• Tuổi và giới tính: Bệnh Hodgkin thường gặp ở những người tuổi từ 15-34 và trên 55 tuổi, nam nhiều gấp đôi nữ
• Người có thân nhân bị Hodgkin có nguy cơ bị ung thư Hodgkin cao hơn những người khác
Nhiễm trùng: Virus Epstein-Barr (EBV) có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh Hodgkin.
Người bị suy yếu hệ miễn dịch do bất kỳ nguyên nhân nào (HIV/AIDS, do sử dụng thuốc, sau đợt điều trị ung thư, do mẹ truyền sang con...)

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp bệnh Hodgkin mà không thấy các yếu tố nguy cơ trên.

B. Triệu chứng:

• Phì đại (nhưng không đau) các hạch bạch huyết ở cổ, nách, háng
• Sốt hồi quy không rõ nguyên nhân
• Ra mồ hôi ban đêm
• Sút cân
• Ngứa ngáy

Các triệu chứng này không nhất thiết phải do bệnh Hodgkin gây ra, nhưng nên đi khám để tìm nguyên nhân.
Đừng đợi đến khi hạch bạch huyết trở nên đau.
Bệnh Hodgkin lúc khởi đầu thường không gây đau.

C. Chẩn Đoán:

Ngoài việc hỏi bệnh sử, cần khám tổng quát để phát hiện tình trạng phì đại các hạch bạch huyết. Có thể dùng thêm một số xét nghiệm để chẩn đoán như:
• Xquang phổi, xương
• Siêu âm bụng
• CT scan nhiều bộ phận của cơ thể
• MRI nhiều bộ phận của cơ thể
• Gallium scan
• PET (Positron Emission Tomography) scan
• Chụp mạch bạch huyết (lymphangiogram): Tiêm một loại hóa chất cản quang vào tĩnh mạch, rồi chụp Xquang để có được hình ảnh của hạch và mạch bạch huyết
• Sinh thiết hạch bạch huyết để xét nghiệm, tìm dấu vết các tế bào Reed-Sternberg, là những tế bào bất thường, rất lớn thường gặp trong bệnh Hodgkin. Số lượng tế bào càng cao, ung thư càng nặng.
• Xét nghiệm tuỷ đồ



H7- Tế bào Reed-Sternberg

Giải phẫu bệnh lý: có giá trị chẩn đoán quyết định, phân loại thể bệnh và mức độ ác tính:

- Là tổ chức Sternberg (tổ chức hạt)
- Tổ chức này gồm: tế bào Sternberg, các lymphocytes, eosinophile, neutrophile, plasmocyte, tế bào sợi...
- Tế bào Sternberg là tế bào đặc trưng: kích thước 30-60µm, nguyên sinh chất nhiều bắt màu kiềm, có từ 1-3 nhân. Nhân có hạt nhân và khoảng sáng quanh nhân. Đây là các tế bào dòng lympho: chúng phát triển mạnh làm đảo lộn, phá vỡ cấu trúc hạch, các vỏ xơ bao quanh hạch bị phá huỷ.


H8- Tế bào Reed-Sternberg

- Tế bào Lympho biến đổi về hình thái, mang đặc điểm của tế bào ung thư: nhân lớn, nhân quái, nhân đang phân chia.
* Tóm lại:
+Hodgkin=tế bào Sternberg, tế bào viêm (N, E, P).
+Non Hodgkin: lymphoblast hình thù quái dị.


H9- Tế bào Reed-Sternberg

D. Xác định giai đoạn của ung thư:

Sau khi chẩn đoán bệnh Hodgkin, cần xác định giai đoạn của ung thư, xem ung thư đã di căn chưa, và nếu có, đã di căn đến đâu, trước khi quyết định điều trị.
-Có bao nhiêu vị trí hạch bạch huyết đã bị ung thư?
-Các hạch bạch huyết đã ung thư hoá này nằm ở vị trí nào của cơ thể?
-Các khối hạch nằm ở một bên hay cả hai bên cơ hoành?
-Ung thư đã di căn đến tủy xương, lách?
-Đã di căn đến những bộ phận khác (ngoài các bộ phận chính của hệ bạch huyết) như gan?

Giai đoạn

“Giai đoạn” là một thuật ngữ dùng để mô tả kích thước, vị trí của ung thư và có di căn hay không. Điều này rất quan trọng bởi vì loại điều trị được áp dụng cho bệnh nhân phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Hệ thống phân loại của bệnh Hodgkin là:
Giai đoạn I: Một nhóm các hạch bạch huyết bị ảnh hưởng nhưng u lympho chỉ ở một phía của cơ hoành.
Giai đoạn II: Hai hoặc nhiều hơn các nhóm hạch bạch huyết bị ảnh hưởng và u lympho chỉ bị ở một phía của cơ hoành.
Giai đoạn III: Có các tế bào u lympho trong các hạch bạch huyết ở trên và dưới cơ hoành. Lách cũng có thể bị tổn thương.
Giai đoạn IV: U lympho đã lan tràn ra ngoài các hạch bạch huyết, ví dụ như đến gan, phổi hoặc tuỷ xương.


H10- Các giai đoạn của bệnh Hodgkin

Cùng với việc đánh số cho mỗi giai đoạn, các bác sĩ còn sử dụng một mã ký tự, chữ A hoặc B để cho biết bệnh nhi có những triệu chứng cụ thể như sốt, giảm cân đáng kể (hơn 1/10 trọng lượng cơ thể trong 6 tháng gần đây nhất) hoặc ra mồ hôi ban đêm. Nếu bệnh nhân không có những triệu chứng đó thì u lympho sẽ được phân loại là A, còn nếu chúng có những triệu chứng đó thì được xếp độ là B.

Khi khám ung thư định kỳ, có thể cần dùng các xét nghiệm trên hoặc sinh thiết gan, tủy xương, và những bộ phận khác.

Khi sinh thiết tủy xương: Dùng một kim dài, đâm xuyên qua lớp cơ đến xương chậu để hút tủy xương. Đôi khi, cần phải dùng đến phương pháp nội soi ổ bụng để lấy mô làm sinh thiết


E. Điều trị:

1. Chuẩn bị cho việc chữa trị.

Người bị bệnh Hodgkin nên tiêm phòng cúm, viêm phổi, viêm màng não.

2. Các phương thức điều trị: Xạ trị và hóa trị là hai phương thức điều trị thông thường nhất. Các phương pháp điều trị khác như cấy ghép tủy xương, ghép tế bào gốc, và trị liệu sinh học (biological therapy), điều trị trúng mục tiêu (target therapy) còn đang trong vòng thử nghiệm lâm sàng (clinical trial).

3. Xạ Trị: Dùng tia xạ để thiêu huỷ tế bào ung thư. Tùy theo giai đoạn của bệnh, có thể dùng xạ trị đơn độc hoặc kết hợp với hoá trị liệu. Tia xạ dùng điều trị bệnh Hodgkin là tia ngoài. Dùng máy chiếu tia xạ nhắm tới một bộ phận của cơ thể để điều trị tại chỗ khối u (local therapy)

4. Hóa trị: Phối hợp nhiều loại hóa chất (combination chemotherapy) để điều trị bệnh Hodgkin theo từng đợt. Đa số các hóa chất đều được dùng tiêm truyền tĩnh mạch, một vài loại thuốc dùng đường uống. Thuốc theo máu luân lưu khắp cơ thể, nên được xem là điều trị toàn thân (systemic therapy).

Sau đây là một số phác đồ điều trị đầu tay bệnh Hodgkin (Hodgkin's lymphoma).
• Phác đồ MOPP (mechlorethamine, vincristine, procarbazine, prednisone) do Vincent DeVita và các đồng sự phát triển vào những năm 1960, chủ yếu có vai trò lịch sử.
• Phác đồ ABVD (Adriamycin, bleomycin, vinblastine, dacarbazine) do Gianni Bonadonna và các đồng sự phát triển vào những năm 1970. Phối hợp này hiện đang là phác đồ điều trị chuẩn cho bệnh Hodgkin.
• Phác đồ Stanford V (doxorubicin, vinblastine, mustard, bleomycin, vincristine, etoposide, prednisone) phát triển tại đại học Stanford University bởi Sandra Horning và các đồng sự. Dùng phối hợp nhiều thuốc trong một thời gian ngắn để giảm bớt tác dụng phụ
• Phác đồ BEACOPP (bleomycin, etoposide, doxorubicin, cyclophosphamide, vincristine, procarbazine, prednisone) được phát triển ở Đức bởi Volker Diehl và đồng sự.
• Các phác đồ điều trị cứu nguy: Dùng khi các phác đồ điều trị đầu tay thất bại:
+ ICE (ifosfamide, carboplatin, etoposide),
+ DHAP (cisplatin, cytarabine, prednisone), và
+ ESHAP (etoposide, methylprednisolone, cytarabine, cisplatin).
+ EPOCH (etoposide, vincristine, doxorubicin, cyclophosphamide, Prednisone)


F. Biến chứng:

Khi điều trị bệnh Hodgkin, thường dùng các liệu pháp đủ mạnh để diệt tế bào ung thư, nhưng cũng gây tổn thương cả những tế bào bình thường, do đó sẽ gây ra nhiều biến chứng. Các biến chứng thường tùy thuộc vào loại hóa chất, liều lượng, cùng với lượng tia xạ sử dụng. Có thể phối hợp thêm các loại thuốc giảm đau, chống nôn v.v. để giúp bệnh nhân chịu đựng được việc điều trị.

1. Xạ Trị: Biến chứng tùy thuộc vào vị trí cơ thể được điều trị, bệnh nhân thường yếu sức và mệt mỏi:
• Rụng tóc, rụng lông, viêm đỏ, khô rát, thẫm màu nơi vùng da chiếu tia
• Xạ trị vùng cổ, ngực: khô, rát họng, nuốt khó, ho khan, khó thở
• Xạ trị vùng bụng: buồn nôn, nôn, tiêu chảy, tiểu rát
• Xạ trị vùng xương chậu: Mất máu, dễ nhiễm trùng hoặc xuất huyết.
Khi xảy ra các biến chứng này, nên ngưng xạ trị một thời gian cho tủy xương hồi phục trước khi tiếp tục điều trị

2. Hóa Trị Liệu: Tùy theo loại hóa chất và liều lượng thuốc sử dụng. Nhìn chung, các loại hóa chất điều trị bệnh Hodgkin thường ảnh hưởng đến những tế bào có tốc độ tăng trưởng nhanh của cơ thể. Các tế bào đó là:
• Tế bào máu: bạch cầu (giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng), tiểu cầu (làm đông máu), hồng cầu (đem oxygen đi khắp cơ thể). Các tế bào máu bị hủy hoại khiến bệnh nhân thường dễ bị nhiễm trùng, xuất huyết (do máu không đông), và cảm thấy yếu sức, mệt mỏi (do thiếu máu, thiếu oxygen).
• Tế bào ở chân tóc bị hủy hoại gây rụng tóc. Tóc có thể mọc trở lại nhưng màu tóc và sợi tóc có thể thay đổi.
• Niêm mạc hệ tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn): bệnh nhân bị lở miệng, môi, tiêu chảy, biếng ăn.

3. Cấy ghép tủy xương (bone marrow transplantation): Khi phải điều trị với một lượng hóa chất và tia xạ quá cao, các bệnh nhân thường bị nhiễm trùng, xuất huyết và kiệt sức. Ngoài ra, tế bào tủy dùng cho ghép có thể phản ứng lại với cơ thể (graft-versus-host disease, GVHD), nhất là trong trường hợp dị ghép (tế bào ghép đến từ người hiến tặng).
Khi xảy ra GVHD, gan, da, và bộ phận tiêu hóa bị ảnh hưởng. Triệu chứng của GVHD có thể nhẹ (tiêu chảy, da tấy đỏ) hoặc rất nặng (viêm gan) và xảy ra ở bất cứ thời điểm nào trong thời gian ghép tủy, ngay cả nhiều năm sau khi điều trị. Dùng steroid để điều trị phản ứng này.

4. Trị liệu Sinh học: Các biến chứng thông thường như da ngứa ngáy, tấy đỏ, sốt, đau cơ, nhức đầu, là những triệu chứng tương tự cảm cúm (nên gọi là "flu-like"). Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể dễ bị chảy máu, giữ nước.

5. Phẫu Thuật: Biến chứng tùy thuộc vào vị trí mổ, phương pháp phẫu thuật và tình trạng sức khoẻ chung của bệnh nhân. Biến chứng thường gặp là mất sức, mệt mỏi nhiều ngày sau phẫu thuật.

G. Những tác dụng phụ muộn

Một số ít trẻ em có thể gặp những tác dụng phụ sau nhiều năm. Các tác dụng phụ đó bao gồm sự giảm phát triển xương, thay đổi chức năng của tim và phổi, tăng nguy cơ phát triển các bệnh ung thư khác trong thời gian sau của cuộc đời.
Sau khi điều trị bằng hoá chất, một số trẻ em (đặc biệt là các bé trai) có thể bị vô sinh. Cha mẹ của các cậu bé lứa tuổi thanh thiếu niên có thể tính đến việc sử dụng ngân hàng tinh trùng trước khi việc điều trị bắt đầu. Khi đó, tinh trùng sẽ được lưu giữ, bảo quản để có thể sử dụng trong những năm sau này.
Bác sĩ của bệnh nhi cần giải thích thật kỹ về các tác dụng phụ muộn bất kỳ nào đó

H- Tiếp tục theo dõi

Khoảng 9/10 trẻ em bị u lympho Hodgkin được chữa khỏi. Nếu ung thư tái phát, cần phải điều trị với liều cao hơn hoặc sử dụng các loại thuốc khác.
Sau khi kết thúc việc điều trị, bệnh nhi sẽ được kiểm tra thường xuyên bằng chụp cắt lớp vi tính và các xét nghiệm huyết học tại bệnh viện.
Nếu gia đình bệnh nhi có những lo lắng riêng về tình trạng và việc điều trị của con mình, thì nên thảo luận với bác sĩ điều trị, là người hiểu rõ về bệnh trạng của trẻ.
Trường hợp người bệnh đang có thai, tùy tình huống, BS có thể cho nạo phá thai hoặc cho sanh sớm hơn dự định. Thai kỳ cũng là một yếu tố làm bùng phát bệnh Hodgkin. Bệnh nhân chỉ được phép có thai trở lại khi bệnh đã được điều trị khỏi hoàn toàn và không cần sử dụng bất kỳ phương thức điều trị nào khác trong khoảng thời gian tối thiểu là 3 năm.

Hóa trị & xạ trị đều gây suy yếu hệ thống miễn dịch. Do đó, song song với việc điều trị, bệnh nhân nhất thiết phải được nghỉ ngơi hoàn toàn để phòng tránh các bệnh cơ hội khác như cảm lạnh, cúm hoặc các viêm nhiễm hô hấp, tiêu chảy, Nên phòng tránh các vết cắt, trầy xước hoặc chấn thương có thể xảy ra trong quá trình tập thể dục. Nên tích cực vận động sớm, sau mỗi đợt điều trị
Một vài bệnh nhân bị suy sụp tinh thần sau những đợt điều trị, lúc đó vai trò của các BS tâm lý là rất cần thiết. Người bệnh nên tham gia vào các hoạt động xã hội, hiệp hội hoặc các nhóm bệnh nhân cùng cảnh ngộ để cùng trao đổi với nhau tất cả những kinh nghiệm về bệnh và tâm tư tình cảm của mình.

Việc tái khám định kỳ rất quan trọng. Hầu hết lymphôm Hodgkin không tái phát sau điều trị. Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp bị tái phát. Sau khi điều trị, hầu hết các bệnh nhân Hodgkin đều trở về cuộc sống bình thường, vẫn có thể lập gia đình và sinh sản như những người khác.


II- U LYMPHO KHÔNG HODGKIN (Non Hodgkin Lymphoma)

U lymphô không Hodgkin nguyên phát là loại bệnh lý ung thư của hệ tạo huyết.


H11- Hệ bạch huyết (amidan, lách, ruột, da, tuỷ xương, các mạch bạch huyết)


H12- Hệ bạch huyết (gan, lách, các hạch bạch huyết, mạch bạch huyết) và cơ hoành


H13- Các cụm hạch bạch huyết: mặt, cổ, thượng đòn, nách, trung thất, lách, mạc treo, cạnh động mạch chủ, chậu, đùi, bẹn v.v.

Tên gọi còn xa lạ với nhiều người, song bệnh này lại khá phổ biến.

Tại Mỹ, năm 2006 có 58.870 trường hợp mới và 18.840 ca tử vong.


H14- Một trong những bệnh nhân tử vong vì lymphoma non-Hodgkin

Tại TP.HCM năm 2003, tỷ lệ bệnh ở nam giới là 4,6/100.000 dân và ở nữ giới là 3,2/100.000 dân. Bệnh Viện Ung Bướu TP.HCM mỗi năm tiếp nhận khoảng 500 trường hợp bệnh mới.

Được hình thành từ những rối loạn của dòng tế bào lymphô, bệnh thường hay xuất phát đầu tiên tại hạch. Ung thư hạch được xếp thành 2 nhóm lớn: nhóm có diễn tiến chậm, thời gian sống sót hơn 10 năm và nhóm có diễn tiến nhanh nên thời gian sống sót ngắn hơn.


H15- Các loại tế bào bạch huyết


H16- Phân loại lymphoma non-Hodgkin

H17- Lymphoma Burkitt


H18- Hình ảnh giải phẫu bệnh của lymphoma Burkitt


Hiện vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã cho thấy có một số yếu tố nguy cơ:

- Suy giảm miễn dịch do nhiễm HIV, do dùng thuốc chống thải ghép...

- Nhiễm trùng (HIV, Helicobacter pylori, HCV...).

- Tuổi trên 60.

- Các yếu tố khác như béo phì, ngộ độc thuốc diệt cỏ, dioxin v.v.

H19- Bệnh nhân nhiễm HIV kèm lymphoma non-Hodgkin

Về triệu chứng: nổi hạch, sụt cân, sốt kéo dài, ho, khó thở , đau ngực, mệt mỏi, suy kiệt kéo dài, đau trướng bụng, đầy bụng.

Khi các triệu chứng kéo dài quá 2 tuần thì phải đi khám để tìm nguyên nhân.

Click this bar to view the full image.

H20- Bệnh nhân lymphoma non-Hodgkin

A- Xác định bệnh

Lymphô không Hodgkin là một bệnh toàn thân rất khó chẩn đoán, cần phải khám lâm sàng (cổ, nách, bẹn, bụng), làm xét nghiệm máu, chụp X-quang ngực, siêu âm bụng, làm sinh thiết hạch.

H21- Hình ảnh CT scan phát hiện non-Hodgkin lymphoma


H22- Hình ảnh PET scan của bệnh nhân non-Hodgkin lymphoma

B- Điều trị

Lymphô không Hodgkin là một trong những loại ung thư có khả năng trị khỏi, cả trong giai đoạn muộn; ngay cả khi ung thư đã di căn thì vẫn còn đến 40% khả năng đáp ứng điều trị lâu dài.

Khi đã xác định bị ung thư, việc xác định giai đoạn lâm sàng giúp cho việc tiên lượng bệnh. Các xét nghiệm cần làm là CT scan, MRI, siêu âm, làm tủy đồ. Bệnh có 4 giai đoạn: 1, 2, 3, 4. Ký hiệu A có nghĩa là không có triệu chứng, còn B là có triệu chứng (sốt, đổ mồ hôi đêm, sụt cân).

C- Các phương pháp điều trị

Lymphô không Hodgkin có đến 35 thể bệnh khác nhau, phương pháp điều trị cũng khác nhau. Một số trường hợp chỉ bắt đầu điều trị khi có triệu chứng. Phác đồ điều trị tùy thuộc vào diễn tiến và giai đoạn bệnh.
- Xạ trị: có vai trò trong một số ca bệnh ở giai đoạn 1.
- Hóa trị: là liệu pháp chủ yếu (truyền hóa chất qua đường tĩnh mạch hay uống hóa chất viên).
- Phương pháp điều trị đúng mục tiêu: là liệu pháp tiên tiến với các dược phẩm mới hữu hiệu, lại ít gây tác dụng phụ như rituximab (Mab-Thera). Tuy nhiên giá thuốc rất cao (khoảng 30 triệu đồng/lần điều trị).

- Ghép tế bào gốc (ghép tủy): được dùng trong các trường hợp có tiên lượng rất xấu, hoặc tái phát, hoặc không đáp ứng với điều trị.

Tại sao cần phân biệt lymphoma Hodgkin và non-Hodgkin mặc dù các bệnh cảnh lâm sàng và phương thức điều trị gần như giống nhau?
Vấn đề là ở chỗ tỷ lệ điều trị thành công cao hay thấp.
Nếu bệnh nhân được chẩn đoán là non-Hodgkin và được điều trị triệt để, tỷ lệ điều trị dứt bệnh là trên 70%.
Tỷ lệ này tăng lên đến trên 90% trong một số trường hợp ung thư hạch, đặc biệt trong nhóm non-Hodgkin.


Albatros

Xem chi tiết…

Nẹp khí quản nhân tạo: Thành tựu mới của y học hiện đại

Một em bé người Mỹ đã được cứu sống nhờ việc sử dụng nẹp khí quản nhân tạo, đó là sản phẩm được làm ra từ máy in 3D

Cậu bé Kaiba 20 tháng tuổi, con trai anh Bryan Gionfriddo, trước đây đã bị mắc một chứng bệnh hiếm gặp có tên khoa học là tracheobronchomalacia, khiến phế quản của cậu bé bị sập và hơi thở bị chặn lại. Tuy nhiên, "Các bác sỹ đã nói rằng thằng bé vẫn còn cơ hội sống sót", mẹ của Kaiba cho biết.
nep khi quan

Hãng tin Upi cho biết các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi C.S. Mot đã được sự đồng ý đặc biệt khẩn cấp từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược cho phép phẫu thuật khâu thanh nẹp được "in" từ máy in 3D vào khí quản của Kaiba. Sau khi tiến hành chụp CT khí quản bị hư của cậu bé, các bác sĩ đã sử dụng máy in 3D để in 100 ống nhỏ và nhờ tia laser khâu chúng lại với nhau trong khí quản của cậu bé.

Giáo sư Tiến sĩ Glenn Green thuộc Đại học Michigan cho biết: "Thật tuyệt vời! Ngay sau khi thanh nẹp được đưa vào, phổi của bé đã bắt đầu hoạt động lên xuống và chúng tôi biết cậu bé sẽ ổn thôi". Ông là người đã đưa ra ý tưởng này cũng với đối tác của mình là Tiến sĩ Scott Hollister.

Thanh nẹp khí quản sử dụng trong ca phẫu thuật trên được làm từ một chất polymer sinh học có tên gọi là polycaprolactone. Sẽ mất khoảng ba năm để chất polymer này tự thoái. Thời gian đó đủ dài để cho khí quản của bé Kaiba phát triển khỏe mạnh cùng với thanh nẹp có tác dụng như một bộ xương chống đỡ cho những đoạn sụn bị sập trong khí quản.

Kaiba đã ngừng thở máy 21 ngày sau ca phẫu thuật. Kể từ đó, cậu bé không còn bị khó thở nữa. Trước khi những ống nhỏ polycaprolactone được đưa vào khí quản, Kaiba thường xuyên bị ngừng thở và cần được hô hấp nhân tạo hàng ngày. Lần đầu tiên bé gặp hiện tượng này là khi được sáu tuần tuổi. Lúc đó, da của Kaiba bị chuyển sang màu xanh.

"Ngay cả với các phương pháp điều trị tốt nhất hiện có, cậu bé vẫn sẽ phải tiếp tục chịu đựng những hiện tượng trên. Cậu bé đã suýt nữa phải đi gặp thần chết", Giáo sư Tiến sỹ Green cho biết.

Riêng Tiến sỹ Hollister thì cho rằng trường hợp Kaiba "chắc chắn là dấu mốc nổi bật" trong sự nghiệp của ông. Tập san y học hàng đầu New England Journal of Medicine cũng liệt kê ca phẫu thuật này là một trong những sự kiện tiêu biểu của nền y học.
Xem chi tiết…

Tổng quan về u trung thất

Trung thất có vị trí nằm ở vùng giữa lồng ngực và được giới hạn bởi các túi màng phổi ở xung quanh. Trung thất có thể được chia thành 3 phần (khu vực): trung thất trước, trung thất giữa và trung thất sau.


Có rất nhiều nguyên nhân gây u trung thất như: u tuyến giáp, u tuyến ức, kén khí quản, u lympho, hạch di căn, u phế quản, u quái... Tùy theo vị trí, u trung thất có thể có các biểu hiện lâm sàng như: hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên, chèn ép dây thần kính quặt ngược, dây giao cảm cổ, chèn ép thực quản.

Để chẩn đoán xác định u trung thất cần dựa vào các biểu hiện lâm sàng như

- Biểu hiện chèn ép tĩnh mạch chủ trên: bệnh nhân có phù mặt, cổ bạnh to, hố thượng đòn đầy, hình ảnh nổi rõ các mạch máu trên ngực, cánh tay phù to.

- Biểu hiện chèn ép thực quản: nuốt khó, nuốt nghẹn.

- Biểu hiện chèn ép khí quản: khó thở, thở rít.

- Biểu hiện chèn ép dây thần kính quặt ngược: nói khàn, nói giọng đôi.

- Biểu hiện chèn ép dây thần kinh giao cảm cổ: sụp mi, hẹp khe mắt, co đồng tử, bừng nóng 1/2 mặt.

- Và nhiều hiểu hiện lâm sàng khác.

Bên cạnh việc thăm khám phát hiện các triệu chứng lâm sàng, việc chẩn đoán xác định các u trung thất thường có sự góp phần không nhỏ của các thăm dò chẩn đoán hình ảnh. Các xét nghiệm này bao gồm: chụp X quang phổi và chụp cắt lớp vi tính ngực.

Chụp X quang phổi thường chỉ cho thấy hình ảnh trung thất rộng, hình ảnh chèn ép khí quản, hoặc đẩy lệch trung thất, hình ảnh hạch trung thất.

Để đánh giá chi tiết hơn cần dựa vào chụp cắt lớp vi tính ngực có tiêm thuốc cản quang. Các thông tin ghi nhận thường bao gồm: hình ảnh u trung thất, tình trạng chèn ép, xâm lấn vào các tổ chức lân cận như khí quản, thực quản, tim và các mạch máu lớn trung thất...

Có rất nhiều loại u trung thất khác nhau: u mỡ trung thất, nang, kén trung thất lành tính, biếu giáp chìm, u tuyến ức, ung thư khí quản... Để xác định chính xác loại u trung thất thường cần dựa vào xét nghiệm tế bào. Các thăm dò lấy bệnh phẩm cho xét nghiệm tế bào bao gồm: chọc hút khối u trung thất xuyên thành khí phế quản qua nội soi, sinh thiết u qua nội soi trung thất, phẫu thuật mở trung thất hoặc sinh thiết khối u trung thất xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính hoặc chiếu x quang tim phổi.

ThS. Nguyễn Thanh Hồi - Khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai
Xem chi tiết…

Tại sao cơ thể ra đờm liên tục ?

Hỏi: Chào bác sĩ ! Mấy hôm nay cổ họng em thường xuyên ra nhiều đờm vào buổi sáng, khiến em khá khó chịu, đặc biệt là khi ăn uống hay nuốt nước bọt. Bác sĩ có thể cho em biết tại sao em lại ra nhiều đờm như vậy không ạ. Em xin cảm ơn

Đáp
: Bạn thân mến!
Đờm hay còn gọi là đàm (tùy theo một số nơi) chúng là các chất tiết ra từ bộ phận hốc mũi tới phế nang và thải ra ngoài miệng. Đờm gồm các dịch tiết của khí phế quản, phế nang, họng, các xoang hàm trán, các hốc mũi.


ho_co_dom

Bình thường ai cũng có các loại tiết dịch trên, nhưng không nhiều, cho nên hô hấp không bị cản trở, không ho và khạc đờm.

Khối lượng tiết dịch đó vào khoảng 100ml/24 giờ, các tiết dịch đường hô hấp sẽ qua thực quản rồi đào thải theo đường tiêu hoá.

Trong trường hợp bệnh, có tình trạng da tiết các dịch của đường hô hấp, ngoài ra có thể còn các chất khác không gặp trong điều kiện bình thường như: máu, mủ, giả mạc, bã đậu. Các chất trên cản trở đường hô hấp, gây phản xạ ho và được tống ra ngoài, gọi là đờm.

Đờm là hậu quả của nhiều nguyên nhân gây bệnh trên đường hô hấp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, những xét nghiệm đờm về mặt cơ thể bệnh, vi khuẩn, và ngay cả hình thái của đờm cũng giúp ta chẩn đoán bệnh. Cần thiết lấy đờm để xét nghiệm tìm nguyên nhân bệnh và cũng để theo dõi tiến triển của bệnh. Khi đường hô hấp có bệnh hoặc vào các thời kỳ khác nhau của bệnh, đờm sẽ thay đổi cả về số lượng, màu sắc, độ đặc loãng và mùi vị. Vì vậy bạn có thể quan sát và nhận biết bệnh của mình theo hướng dẫn tại bài viết cách phòng tránh chứng nhiều đờm

Xin chúc bạn và gia đình khỏe mạnh !



Xem chi tiết…

Bệnh lý khí phế thũng

Khí phế thũng
Bệnh lý khí phế thũng là một trong những biến chứng của nghẽn phổi mãn tĩnh. Làm cản trở quá trình hô hấp của cơ thể bệnh nếu không được phát hiện và điêu trị kịp thời thì sẽ rất nguy hiểm

Các triệu chứng

Triệu chứng khí phế thũng bắt đầu nhẹ với bệnh tiến triển đều đặn càng xấu hơn. Các triệu chứng bệnh khí thũng chính là:

Khó thở.

Thở khò khè.

Tức ngực.

Giảm khả năng hoạt động thể chất.

Ho mãn tính, mà cũng có thể cho biết viêm phế quản mãn tính.

Chán ăn và mất trọng lượng.

Mệt mỏi.

Gặp bác sĩ khi

Mệt một cách nhanh chóng, hoặc có thể không thể làm những việc dễ dàng.

Không thể thở khi chịu đựng mức độ thực hiện ngay cả vừa phải.

Khó khăn hơi thở khi bị cảm lạnh.

Môi hoặc móng tay có màu xanh hoặc màu xám, chỉ ra oxy thấp trong máu.

Thường xuyên ho ra đờm màu vàng hoặc màu xanh lục.

Cúi xuống để buộc giày làm cho khó thở.

Đang giảm cân.

Những dấu hiệu và triệu chứng không nhất thiết có nghĩa là có phù thủng, nhưng chúng cho thấy rằng phổi không hoạt động đúng và cần được đánh giá bởi bác sĩ càng sớm càng tốt.

Nguyên nhân

Các nguyên nhân gây bệnh khí thũng bao gồm:

Hút thuốc

Hút thuốc lá là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh khí thũng. Có hơn 4.000 hóa chất trong khói thuốc lá. Những chất kích thích hóa học phá hủy từ từ đường hô hấp ngoại vi nhỏ, túi khí - đàn hồi và hỗ trợ của các sợi đàn hồi.

Thiếu hụt Protein

Khoảng 1 - 2 % những người có khí phế thũng có thừa kế thiếu một protein gọi là AAT, để bảo vệ các cấu trúc đàn hồi trong phổi. Nếu không có protein này, các enzyme có thể gây tổn thương phổi tiến triển, cuối cùng dẫn đến bệnh khí thũng. Nếu là một người hút thuốc với thiếu AAT, khí phế thũng có thể bắt đầu ở độ tuổi 30 và 40. Những tiến triển và mức độ nghiêm trọng của căn bệnh này là rất nhanh do hút thuốc lá.

Yếu tố nguy cơ
Yếu tố nguy cơ bệnh khí thũng bao gồm:

Hút thuốc

Khí phế thũng rất có thể phát triển ở người hút thuốc lá, xì gà và ống hút thuốc cũng là nhạy cảm và nguy cơ cho tất cả những người hút thuốc tăng với số năm và số lượng thuốc lá hút.

Tuổi


Mặc dù những tổn thương phổi xảy ra trong khí phế thũng phát triển dần dần, hầu hết những người có liên quan đến khí phế thũng thuốc lá bắt đầu có những triệu chứng của bệnh trong độ tuổi từ 40 và 60.

Tiếp xúc với khói thuốc


Hút thuốc gián tiếp, cũng gọi là khói thuốc lá thụ động, không hút thuốc mà vô tình hít vào từ người khác, thuốc lá hoặc xì gà. Khói thuốc xung quanh làm tăng nguy cơ bệnh khí thũng.

Nghề nghiệp tiếp xúc với khói, bụi

Nếu hít thở khói từ một số hóa chất, bụi từ ngũ cốc, gỗ, bông hoặc các sản phẩm khai thác mỏ, có nhiều khả năng phát triển bệnh khí thũng. Nguy cơ này thậm chí còn lớn hơn nếu hút thuốc.

Tiếp xúc với ô nhiễm trong nhà và ngoài trời

Thở các chất ô nhiễm trong nhà, chẳng hạn như khí thải từ nhiên liệu sưởi ấm, cũng như các chất gây ô nhiễm ngoài trời, ví dụ khói xe, tăng nguy cơ bệnh khí thũng.

Lây nhiễm HIV
Những người hút thuốc sống với HIV có nguy cơ lớn hơn khí phế thũng hơn là người hút thuốc lá không có nhiễm HIV.

Rối loạn mô liên kết


Một số điều kiện có ảnh hưởng đến các mô liên kết - các sợi cung cấp khuôn và hỗ trợ cho cơ thể được kết hợp với khí phế thũng. Các điều kiện này bao gồm laxa - da, một căn bệnh hiếm gặp gây ra lão hóa sớm và hội chứng Marfan, một rối loạn có ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt là tim, mắt, xương và phổi.

Các biến chứng


Khí phế thũng có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của các điều kiện mãn tính khác, như bệnh tiểu đường và suy tim. Nếu có khí phế thũng, ô nhiễm không khí hoặc nhiễm trùng đường hô hấp có thể dẫn đến một đợt cấp COPD, với độ khó thở và nồng độ oxy thấp nguy hiểm. Có thể cần nhập một đơn vị chăm sóc tích cực và hỗ trợ tạm thời từ một máy thở nhân tạo cho đến khi nhiễm trùng xóa hết.

Các xét nghiệm và chẩn đoán


Để xác định xem có phù thủng, bác sĩ có thể khuyên nên thử nghiệm nhất định, bao gồm:

Đo phế dung và xét nghiệm chức năng phổi khác (PFTs)

Các xét nghiệm không xâm lấn có thể phát hiện khí phế thũng trước khi có triệu chứng. Đánh giá bao nhiêu không khí phổi có thể giữ và dòng chảy của không khí vào và ra khỏi phổi. Cũng có thể đo lường phổi cung cấp ôxy cho máu như thế nào.

Trong đo phế dung, thường yêu cầu thổi vào một dụng cụ đơn giản gọi là phế dung kế. PFTs có thể được thực hiện trước và sau khi sử dụng thuốc hít để kiểm tra phản ứng đối với nó. Nếu là một người nghiện thuốc lá hoặc người hút thuốc cũ, hãy hỏi bác sĩ về việc tham gia các thử nghiệm này, ngay cả khi không có triệu chứng của bệnh khí thũng hay COPD.

Phân tích khí máu động mạch


Các xét nghiệm máu đo lường phổi chuyển oxy vào như thế nào và loại bỏ khí cacbonic từ máu.

Phương pháp đo oxy xung


Thử nghiệm này bao gồm việc sử dụng một thiết bị nhỏ gắn vào ngón tay. Các biện pháp đo lượng ôxy trong máu khác với cách được đo bằng một phân tích khí máu. Để giúp xác định xem cần bổ sung oxy, thử nghiệm có thể được thực hiện ở phần còn lại, trong khi tập luyện và qua đêm.

Chụp X - quang

Chụp X - quang có thể giúp xác định chẩn đoán bệnh khí thũng và loại trừ nguyên nhân khác gây khó thở, nhưng X - quang là không đủ để làm một chẩn đoán chính xác.

Kiểm tra đờm

Phân tích của các tế bào ho ra (đờm) có thể giúp xác định nguyên nhân của một số vấn đề về phổi.

Máy vi tính cắt lớp (CT scan). CT scan có thể cho phép bác sĩ xem cơ quan nội tạng, nơi sẽ tìm các đặc trưng hoặc bóng nước mà do khí phế thũng.

Phương pháp điều trị và thuốc
Bước quan trọng nhất trong bất kỳ kế hoạch điều trị cho người hút thuốc với bệnh khí thũng là ngừng hút thuốc, đó là cách duy nhất để ngăn chặn các thiệt hại cho phổi trở nên tồi tệ hơn. Nhưng bỏ là không bao giờ dễ dàng, và người ta thường cần sự giúp đỡ của một kế hoạch toàn diện ngừng hút thuốc lá, có thể bao gồm:

Một ngày mục tiêu để bỏ thuốc lá.

Phòng, chống tái nghiện.

Lời khuyên dành cho các thay đổi lối sống lành mạnh.

Hệ thống hỗ trợ xã hội.

Thuốc men, kẹo cao su nicotine như hay loại thay thế và thuốc theo toa hydrochloride, bupropion và varenicline.

Phương pháp điều trị bệnh khí thũng khác tập trung vào việc giúp cảm thấy tốt hơn, trở lại hoạt động nhiều hơn và làm chậm sự tiến triển của bệnh khí thũng. Chúng bao gồm:

Thuốc giãn phế quản

Các thuốc này có thể giúp làm giảm ho, khó thở và khó thở do thư giãn đường thở hẹp, nhưng chúng không có hiệu quả trong điều trị bệnh khí thũng khi đang ở trong điều trị bệnh hen suyễn hay viêm phế quản mãn tính.

Hít steroid

Thuốc corticosteroid hít như thuốc xịt aerosol có thể làm giảm triệu chứng của bệnh khí thũng kết hợp với bệnh hen suyễn và viêm phế quản. Mặc dù hít steroid có tác dụng phụ ít hơn steroid đường uống, sử dụng lâu dài có thể làm yếu xương và tăng nguy cơ cao huyết áp, đục thủy tinh thể và bệnh tiểu đường.

Điều trị GERD

Triệu chứng bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) trầm trọng thêm các bệnh đường thở ở nhiều người, vì thế bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc cũng như thay đổi lối sống để điều trị nó.

Bổ sung oxy

Nếu có khí phế thũng nặng với nồng độ ôxy trong máu thấp, sử dụng oxy thường xuyên ở nhà và khi tập thể dục có thể cung cấp một số cứu trợ. Nhiều người sử dụng oxy 24 giờ một ngày. Nhiều hình thức oxy có sẵn cũng như các thiết bị khác nhau để cung cấp ôxy cho phổi.

Chương trình phục hồi chức năng phổi

Một phần quan trọng của việc điều trị bao gồm một chương trình phục hồi chức năng phổi, kết hợp giáo dục, đào tạo, tập thể dục và can thiệp hành vi để giúp trở lại hoạt động và cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

Trợ giúp cai nghiện thuốc lá và nhu cầu dinh dưỡng

Có thể tìm hiểu kỹ thuật hít thở đặc biệt và cách thức để bảo tồn năng lượng. Bởi vì tập thể dục có thể giúp làm chậm sự suy giảm chức năng phổi.

Thuốc kháng sinh


Nếu phát triển nhiễm khuẩn như viêm phế quản hoặc viêm phổi.

Tiêm phòng chống cúm và viêm phổi

Nếu có khí phế thũng hoặc các hình thức khác của bệnh COPD, các chuyên gia khuyên nên phòng bệnh cúm (flu) hàng năm và viêm phổi mỗi năm năm.

Phẫu thuật

Trong một quy trình thử nghiệm được gọi là phẫu thuật giảm thể tích phổi (LVRS), bác sĩ phẫu thuật loại bỏ nêm nhỏ của mô phổi bị hư hỏng. Loại bỏ các mô bệnh giúp phổi làm việc hiệu quả hơn và giúp cải thiện hơi thở.

Trong phẫu thuật khác, gọi là bullectomy, các bác sĩ loại bỏ một hoặc nhiều các bóng nước đã hình thành khi các túi khí nhỏ bị phá hủy. Thủ tục này có thể cải thiện hơi thở.

Cấy ghép
Cấy ghép phổi là một lựa chọn nếu có khí phế thũng nặng và các tùy chọn khác đã thất bại.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Một số bài tập đơn giản có thể cải thiện hơi thở nếu có bệnh khí thũng phổi hoặc rối loạn mãn tính khác. Chúng giúp kiểm soát phổi bằng cách sử dụng các cơ bụng 2 - 4 lần / ngày.

Thở bằng cơ hoành

Để thực hiện kiểu thở tập thể dục, có các bước sau:

Nằm ngửa với đầu gối được hỗ trợ bởi gối. Bắt đầu bằng cách thở vào và ra từ từ và nhẹ nhàng trong một mô hình nhịp điệu - Thư giãn.

Đặt ngón tay lên bụng, ngay dưới khung xương sườn. Khi hít vào từ từ, sẽ cảm thấy cơ hoành nâng bàn tay.

Thực hành đẩy bụng chống lại bàn tay như ngực trở nên tràn đầy không khí. Hãy chắc chắn rằng ngực vẫn bất động. Hãy thử điều này trong khi hít qua miệng và đếm chậm đến ba. Sau đó thở ra bằng miệng mím môi trong khi đếm từ từ đến sáu.

Thực hành thở bằng cơ hoành nắm ngửa cho đến 10 - 15 hơi thở liên tiếp mà không mệt mỏi. Sau đó, thực hành nó trong khi đang úp và nghiêng. Tiến độ để làm các bài tập trong khi ngồi thẳng trên ghế, đứng lên, đi bộ và cuối cùng leo cầu thang.

Thở mím môi

Hãy thử bài tập hít thở bằng cơ hoành với mím môi khi thở ra. Hít sâu qua miệng thở ra. Lặp lại 10 lần mỗi kỳ. Thở ra đối với môi mím làm tăng áp suất không khí bên trong đường hô hấp, bao gồm cả đường hô hấp rất nhỏ, giảm thiểu sụp đổ đường dẫn khí.

Hít thở sâu


Trong khi ngồi hoặc đứng, kéo khuỷu tay chắc chắn khi hít sâu. Giữ hơi thở trong với ngực cong đến đến năm và sau đó thở ra bằng cách hợp đồng cơ bụng và để khuỷu tay trở về vị trí bắt đầu. Lại bài tập 10 lần.

Các bước có thể


Nếu có khí phế thũng, có thể mất một số bước để ngăn chặn sự tiến triển của nó và để bảo vệ mình khỏi các biến chứng:

Ngưng hút thuốc lá. Đây là biện pháp quan trọng nhất có thể giúp sức khỏe tổng thể và một trong những biện pháp có thể ngăn chặn sự tiến triển của bệnh khí thũng. Tham gia một chương trình cai thuốc nếu cần trợ giúp bỏ hút thuốc. Càng nhiều càng tốt tránh khói thuốc.

Tránh các chất kích thích đường hô hấp khác. Chúng bao gồm sơn và khói từ ống xả xe hơi, một số mùi nấu ăn, nước hoa nào đó, thậm chí đốt nến và hương trầm. Thay đổi lò sưởi và điều hòa không khí các bộ lọc thường xuyên để hạn chế ô nhiễm.

Tập thể dục thường xuyên. Cố gắng không để cho vấn đề thở ảnh hưởng tập thể dục thường xuyên, trong đó có thể tăng dung lượng phổi đáng kể.

Thông thoáng đường hô hấp. Nếu có viêm phế quản mãn tính, chất nhờn có xu hướng thu thập trong đường dẫn khí và có thể khó ho khạc. Để giữ cho chất tiết loãng và dễ dàng để thoát, uống nhiều chất lỏng không cồn mỗi ngày.

Tự bảo vệ mình khỏi không khí lạnh. Không khí lạnh có thể gây ra co thắt các đoạn phế quản, thậm chí làm cho nó khó khăn hơn để thở. Khi thời tiết lạnh, mặc một chiếc khăn mềm hoặc khẩu trang có sẵn từ nhà thuốc - miệng và mũi trước khi đi ra ngoài để làm ấm không khí vào phổi.

Tránh nhiễm trùng đường hô hấp. Được chủng ngừa viêm phổi như lời của bác sĩ. Cũng nhận được chủng ngừa cúm hàng năm. Làm tốt nhất để tránh tiếp xúc trực tiếp với những người bị cảm lạnh hoặc cúm. Nếu phải hòa nhập với các nhóm lớn của người trong mùa lạnh và cúm, đeo khẩu trang, rửa tay thường xuyên và mang theo một lọ thuốc nhỏ rửa tay trong túi hoặc ví. Cố gắng tránh chạm vào bên trong mũi hoặc dụi mắt, cách lây nhiễm virus nhất.

Duy trì tốt chế độ dinh dưỡng. Cân bằng chế độ ăn uống cho cơ thể các chất dinh dưỡng cần thiết cho năng lượng, xây dựng và duy trì các tế bào và cho điều chỉnh các quá trình cơ thể. Công tác hướng tới và duy trì một trọng lượng cơ thể mong muốn. Cơ thể thừa cân cần nhiều ôxy hơn và có thể can thiệp vào hơi thở. Nếu đang thiếu cân, đạt trọng lượng khỏe mạnh có thể làm tăng sức mạnh.

Khi ăn, có thể cần ăn bữa ăn nhỏ thường xuyên hơn. Ăn bữa ăn lớn trong ngày và tránh nằm xuống sau bữa ăn. Ăn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa, chẳng hạn như sữa chua, gạo, khoai tây nướng, gà kho hay cá có thể dễ chịu hơn so với thịt đỏ và các món ăn nặng.

Đối phó và hỗ trợ

Những đề nghị này có thể giúp đối phó với khí phế thũng:

Bày tỏ cảm xúc

Khí phế thũng có thể giới hạn một số hoạt động và ảnh hưởng đến kế hoạch và thói quen của gia đình theo những cách có thể không phải luôn luôn dự đoán. Nếu bản thân và gia đình có thể nói chuyện cởi mở về những nhu cầu của nhau, sẽ tốt hơn có thể đáp ứng các thách thức về sống chung với bệnh này. Hãy cảnh giác với những thay đổi trong tâm trạng và các mối quan hệ với người khác và không ngại tìm kiếm sự tư vấn.

Xem xét một nhóm hỗ trợ


Cũng có thể xem xét tham gia một nhóm hỗ trợ cho những người bị bệnh khí thũng. Mặc dù các nhóm hỗ trợ không phải cho tất cả mọi người, họ có thể là một nguồn cung cấp thông tin về phương pháp điều trị mới và chiến lược đối phó. Và nó có thể được khuyến khích để dành thời gian với những người khác trong hoàn cảnh tương tự. Nếu đang quan tâm đến một nhóm hỗ trợ, nói chuyện với bác sĩ.

Phòng chống

Hầu hết các trường hợp có thể ngăn ngừa khí phế thũng. Để ngăn ngừa bệnh khí thũng:

Không hút thuốc. Nếu hút thuốc, tìm sự giúp đỡ để bỏ thuốc lá càng sớm càng tốt.

Tránh tiếp xúc với khói thuốc.

Đeo khẩu trang để bảo vệ phổi nếu làm việc với hóa chất, bụi khói.

Tăng hoạt động thể chất hoặc tập thể dục thường xuyên nếu đã hút thuốc trong quá khứ.

Thành viên Dieutri.vn
Xem chi tiết…