Tự xoa bóp phòng ngừa viêm khí phế quản mạn

Bệnh viêm khí quản mạn tính thường gặp khi thời tiết đổi mùa. Nguyên nhân do người bệnh khi bị viêm họng, viêm khí quản cấp tính nhưng không điều trị kịp thời hoặc điều trị không dứt điểm nên chuyển thành mạn tính; hoặc do bị cảm cúm mà chuyển thành viêm khí phế quản.



Triệu chứng chủ yếu là ho kéo dài, có thể có đờm, đau ngực, đôi khi kèm theo thở khò khè. Khi mới phát bệnh thường nhẹ, sau khi ho thường nhổ ra đờm loãng có bọt trắng, dính. Bệnh nhân có thể sốt cao, lạnh run, ho nhiều, đờm nhiều quánh hoặc vàng đặc. Một số trường hợp nặng, viêm khí phế quản mạn tính kéo dài có thể dẫn tới giãn phế quản, suy tim. Theo Đông y, ngoài việc dùng thuốc theo nguyên tắc biện chứng luận trị, người bệnh có thể tự tiến hành một số thao tác xoa bóp để phòng bệnh và hỗ trợ tích cực cho các biện pháp trị liệu. Dưới đây, xin giới thiệu cách tự xoa bóp phòng chống viêm khí phế mạn tính đơn giản để độc giả có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

1. Day huyệt đản trung: dùng ngón cái hoặc ngón giữa tay phải day huyệt đản trung trong khoảng 2 phút.
Day huyệt hợp cốc.

2. Day huyệt khuyết bồn: dùng ngón giữa day huyệt khuyết bồn hai bên trong khoảng 2 phút.

3. Day huyệt nhũ căn: dùng ngón cái hoặc ngón giữa day huyệt nhũ căn cả hai bên trong khoảng 2 phút.

4. Xoa ngực: Trước hết, dùng lòng bàn tay phải xoa từ ngực bên phải sang bên trái. Sau đó đổi tay, dùng tay trái xoa ngực từ bên trái sang bên phải. Khi xoa, tay đưa đi đưa lại theo một đường thẳng. Bàn tay xoa có lực nhưng không nên ép mạnh quá gây tổn thương da. Động tác phải đều đặn, hít thở đều. Tốc độ xoa khoảng 100 - 120 lần/phút tới khi ngực nóng lên thì thôi.

5. Day huyệt phong môn: Trước hết, tay phải đưa về phía sau vai trái, ngón tay giữa áp vào huyệt phong môn day trong khoảng 2 phút. Sau đó đổi tay trái đưa về phía sau vai phải, ngón tay giữa áp vào huyệt phong môn day trong khoảng 2 phút.

6. Day huyệt phế du: Tay phải đưa về phía sau vai trái, ngón giữa áp vào huyệt phế du day trong 2 phút. Sau đó đổi tay trái đưa về phía sau vai phải, ngón giữa áp vào huyệt phế du và day trong 2 phút.

7. Bấm huyệt hợp cốc: Dùng ngón cái hoặc ngón trỏ, ngón giữa bấm vào huyệt hợp cốc mỗi bên khoảng 10 lần. Khi bấm, động tác theo nhịp một mạnh, một nhẹ.

8. Day huyệt túc tam lý: Dùng ngón cái tay phải bấm vào huyệt túc tam lý bên chân phải và day trong 1 phút. Lặp lại tương tự với chân trái. Cũng có thể bấm đồng thời cả hai bên.

Dù là day, bấm hay vuốt vào huyệt vị, nếu thấy cảm giác tê tức là được.

Để phòng bệnh, cần thực hiện những điều sau:

- Bỏ hút thuốc.

- Phòng chống nhiễm khuẩn đường hô hấp trên bằng súc họng, nhỏ mũi. Nên tiêm vaccin phòng bệnh cúm. Đeo khẩu trang khi ra ngoài trời và khi phải tiếp xúc với người bị ho hoặc hắt hơi.

- Uống nhiều nước, ăn uống đủ chất dinh dưỡng, bổ sung các loại vitamin để tăng cường thể lực.

- Nhà ở phải thoáng mát về mùa hè và ấm về mùa đông. Đối với người già và trẻ em, cần giữ ấm chân, cổ, ngực, nhất là khi ngủ và lúc ra ngoài trời. Mùa rét không tắm nước lạnh, nơi tắm phải kín, không có gió lùa dễ gây viêm họng, viêm khí phế quản.

- Điều trị tốt các bệnh ở tai mũi họng. Khi có bội nhiễm cần kết hợp dùng thuốc theo y học hiện đại.

Vị trí huyệt

- Huyệt đản trung: Ở điểm gặp nhau của đường dọc giữa xương ức với đường đi qua 2 núm vú (nam giới) hay đường đi ngang qua bờ trên 2 khớp xương ức thứ 5 (nữ giới).

- Huyệt khuyết bồn: Huyệt ở chỗ lõm chính giữa mép trên xương đòn, thẳng xuống dưới là đầu vú.

- Huyệt nhũ căn: Ở giữa gian sườn 5, thẳng dưới đầu vú, cách đường giữa ngực 4 tấc.

- Huyệt phong môn: Dưới mỏm gai đốt sống lưng 2 đo sang ngang 1,5 tấc.

- Huyệt phế du: Dưới mỏm gai đốt sống lưng 3, đo sang ngang ra 1, 5 tấc.

- Huyệt hợp cốc: Huyệt nằm ở điểm giữa xương bàn tay 1 và 2 về phía mu tay. Hoặc khép ngón trỏ và ngón cái sát nhau, huyệt ở điểm cao nhất của cơ bắp ngón trỏ ngón cái.

- Huyệt túc tam lý: Úp lòng bàn tay vào giữa đầu gối, đầu ngón tay giữa chạm vào xương ống chân (xương chày), từ đó ngang ra phía ngoài 1 tấc là huyệt.

Nguồn: đông y việt

Xem chi tiết…

Phòng bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ em

Viêm tiểu phế quản là bệnh hô hấp cấp tính, rất hay gặp ở trẻ còn bú. Nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm sẽ cho kết quả tốt, những trường hợp nặng gây suy hô hấp có thể bị tử vong. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ cần có những hiểu biết về bệnh để chăm sóc trẻ được tốt hơn.

Những biểu hiện khi trẻ bị viêm tiểu phế quản
Triệu chứng ban đầu thường thấy nhất là tình trạng trẻ ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3 – 5 ngày, trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Khi thăm khám thường thấy nhịp thở của trẻ nhanh, sốt vừa, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém.



Các tiêu chuẩn lâm sàng khác cho thấy trong khí máu PaO2 giảm, PaCO2 tăng, có nhiễm toan hô hấp kèm theo, đây là những chỉ số đánh giá mức độ nặng của bệnh. Để phát hiện chính xác loại virus gây bệnh, cần phải phân lập hoặc nuôi cấy virus, bằng cách lấy dịch tiết khí phế quản hoặc trong tổ chức phổi hoặc phản ứng huyết thanh.

Cần lưu ý: khi chẩn đoán bệnh cần phân biệt với các triệu chứng của viêm phế quản, viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus, bệnh mềm sụn thanh khí quản, bệnh mạch máu, các khối u (chèn ép khí phế quản từ ngoài vào) hoặc tình trạng u mạch máu, hẹp khí quản gây tắc nghẽn đường hô hấp ở trong. Các bệnh như: trào ngược dạ dày thực quản, dị vật đường thở, khó thở thứ phát sau nhiễm virus… cũng cần được phân biệt với viêm tiểu phế quản ở trẻ em.

Vì sao trẻ bị viêm tiểu phế quản?
Tác nhân làm cho trẻ bị viêm tiểu phế quản thường là do các virus như: virus hợp bào hô hấp (VRS), chiếm 30 – 50% các trường hợp mắc bệnh. Virus cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị viêm tiểu phế quản. Ngoài ra phải kể đến adenovirus với 10% số mắc.

Nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virus hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao, do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ. Những trẻ từng bị ốm do nhiễm virus trước đó như: viêm mũi họng, viêm amiđan, viêm VA… đều có nguy cơ dễ nhiễm bệnh nếu không được chăm sóc tốt. Các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, bị bệnh phổi bẩm sinh như: loạn sản phổi, mucoviscidose hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải viêm tiểu phế quản.

Các biến chứng thường gặp
Tất cả các trường hợp viêm tiểu phế quản ở trẻ nếu không được chẩn đoán bệnh và điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: rối loạn chức năng hô hấp, xuất hiện từng cơn khó thở ra tái phát, viêm tiểu phế quản lan tỏa. Nghiêm trọng hơn sẽ làm trẻ bị suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi – trung thất, xẹp phổi và thậm chí tử vong.

Xử trí và phòng bệnh thế nào?
Đối với các thể thông thường, không có suy hô hấp thì ngay khi vào viện các bác sĩ sẽ tiến hành hút thông đường thở, giải phóng các chất xuất tiết. Dùng khí dung ẩm thuốc giãn phế quản có tác dụng nhanh như: ventolin, bricanyl, salbutamol. Kết hợp với vật lý liệu pháp hô hấp, vỗ rung, hút đờm. Những trẻ sốt cao, nôn, thở nhanh phải bù đủ dịch và điện giải theo nhu cầu cơ thể trẻ. Cần cho trẻ dinh dưỡng đủ chất, cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng kháng sinh.

Đối với những trường hợp nặng có suy hô hấp thì phải sử dụng liệu pháp oxy, hút thông đường hô hấp trên, dùng thuốc giãn phế quản đường khí dung, truyền nước, điện giải theo nhu cầu cơ thể bù lượng thiếu hụt. Nếu những biện pháp trên không cải thiện tình trạng suy hô hấp thì phải tiến hành đặt nội khí quản và các biện pháp hô hấp hỗ trợ khác. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có biểu hiện viêm nhiễm thứ phát, không nên dùng steriod cho trẻ.

Muốn phòng bệnh hiệu quả, các bà mẹ hãy cho trẻ bú sữa mẹ đến 2 tuổi, không để trẻ bị lạnh, giữ cho môi trường sống của trẻ được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bếp than, khói thuốc lá. Khi đi ra đường nên giữ ấm và bảo vệ đường hô hấp trên cho trẻ, có thể sử dụng nước muối sinh lý 0,9% nhỏ vào mắt, mũi trẻ sau khi đi chơi về. Những trẻ bị các bệnh tim, phổi bẩm sinh càng đặc biệt lưu ý. Nếu trẻ có những biểu hiện bệnh như: sốt, ho, khó thở cần đưa ngay trẻ đến các chuyên khoa hô hấp để được điều trị đúng

Nguồn: y khoa hàng ngày
Xem chi tiết…

Món ăn - bài thuốc dành cho người viêm khí quản

Vào thu đông, bệnh viêm khí quản thường gặp, do bị cảm lạnh hoặc hít phải bụi, do hút thuốc lá... Biểu hiện cơn ho nổi lên vào sáng sớm, lúc nửa đêm. Đông y gọi viêm khí quản là khái thấu, đàm ẩm. Bệnh có hai thể: cấp tính và mạn tính. Ngoài các bài thuốc Đông y theo từng thể bệnh, xin giới thiệu một số món ăn hỗ trợ góp phần làm tăng hiệu quả điều trị. 



Cháo rau diếp cá: Diếp cá 30g, gạo lức 50g. Rửa sạch diếp cá, đổ nước vừa đủ, đun sôi cho gạo đã đãi sạch vào nấu thành cháo. Ăn nóng, ngày 2 lần, cứ 10 ngày là một liệu trình.

Cháo thịt ngỗng: Thịt ức ngỗng 100g, nấm mèo 25g, thịt chân giò chín 15g, hành 5g, gừng tươi 5g, rượu 10g, muối tinh 7g, bột ngọt 2g, dầu thơm vani 25g, nước luộc thịt ngỗng 1 lít, tiêu bột 2g, gạo nếp 100g. Cắt nhỏ thịt ức ngỗng như hạt gạo, nấm, thịt chân giò cũng cắt nhỏ như hạt lựu, gạo nếp đãi sạch cho vào nồi đất, cho nước thịt ngỗng vào nấu, đến khi gạo nở thì cho thịt ngỗng và các thứ vào nấu thành cháo đặc mới cho dầu thơm vani, rắc bột tiêu vào là được. Ngày ăn 1 bát, chia 2 - 3 lần ăn.

Cháo trai: Trai khô 25g, thịt gà 50g, rượu 15g, nấm mèo 50g, muối tinh 5g, mỡ lợn 25g, gạo te 100g, gừng, hành, bột tiêu vừa đủ. Các thứ làm sạch, chế biến xong cho gạo vào nồi với trai khô, thịt gà, nước 1,5 lít nấu thành cháo. Cháo chín cho mỡ lợn, muối, gừng, hành, hạt tiêu vào, đun qua, quấy đều là được. Ngày ăn 1 bát chia 2 lần.

Cháo lê: Quả lê 500g, ý dĩ nhân 100g, đường phèn 100g. Rửa sạch ý dĩ nhân, ngâm nước, vớt ra để ráo. Lê bỏ hạt, cắt thành quân cờ, cho cả ba thứ vào nồi với 1 lít nước nấu thành cháo. Ngày ăn 1 bát chia 2 lần ăn lúc nóng.

Cháo gừng tươi, sơn trà: Lá sơn trà 15g, gừng tươi 15g, gạo lức 100g, dầu vani, muối vừa đủ. Gạo đãi sạch, gừng thái lát, cho cùng lá sơn trà với nước vừa đủ đun thành cháo rồi cho dầu vani, bột ngọt là được. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo vỏ quýt: Vỏ quýt tươi 30g, gạo lức 50 - 100g. Rửa sạch vỏ quýt, đổ nước vừa đủ, nấu lấy nước, bỏ bã rồi cho gạo đã vo sạch, nấu cháo loãng. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo đình lịch tử (hạt đay): Hạt đay 10g, gạo lức 100g. Sao hạt đay đến khi thơm, để nguội, cho nước đun cô đặc, bỏ bã, cho gạo đã vo sạch, thêm nước vừa đủ, nấu cháo. Ngày ăn một bát chia 2 lần.

Cháo hạt mã đề: Hạt mã đề 15g, gạo lức 50g. Dùng vải bọc hạt mã đề, cho vào nồi đất, cho thêm 200ml nước, nấu còn 100ml, bỏ túi thuốc, cho gạo đã đãi sạch, thêm 400ml nước nấu cháo loãng. Ngày ăn 2 lần lúc cháo nóng.

Canh cá diếc, hạnh nhân: Cá diếc 1 con, hạnh nhân 10g, đường đỏ vừa đủ. Làm sạch cá diếc cho vào nồi cùng hạnh nhân và đường. Dùng nồi đất, nước vừa đủ đun chín nhừ là được. Ăn cá, uống canh.

Canh bách hợp: Bách hợp 100g, đường trắng 50g. Rửa sạch bách hợp cho vào nồi cùng đường trắng, nước vừa đủ, đun khoảng 1 giờ thấy chín nhừ là được. Ăn trong ngày. Tác dụng: bổ âm, dưỡng phế, bổ tâm, trừ phiền.

Canh cải nấu đậu phụ, táo tàu: Cải trắng khô 100g, đậu phụ 50g, táo tàu 10 quả, dầu thực vật, muối tinh vừa đủ. Các thứ chế biến rửa sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, ninh chín, cho dầu, muối vào là được. Ăn kèm trong bữa ăn.

Canh phổi lợn nấu lá chanh: Lá chanh 15g, phổi lợn 150 - 200g. Rửa sạch, cho hai thứ vào nồi, đổ nước vừa đủ đun chín thì cho gia vị là được. Ăn phổi, uống canh.

Canh hải sâm, ngân nhĩ: Ngân nhĩ 10g, hải sâm ngâm nở 150g, nước 1lít, rượu trắng, muối, bột ngọt vừa đủ. Cho ngân nhĩ cùng hải sâm vào nồi, cho nước đun sôi một lúc rồi vớt ra để ráo nước. Dùng một nồi khác đổ 250ml nước và rượu, muối, bột ngọt cùng ngân nhĩ, hải sâm vào, đun sôi thì đun nhỏ lửa khoảng 1 giờ, múc ra vài bát nhỏ. Lại đổ 750ml nước vào nồi khác, cho rượu, bột ngọt, đun sôi, hớt bọt rồi múc vào bát đựng ngân nhĩ, hải sâm. Ăn trong ngày.

Chè bách hợp, mã thầy: Bách hợp 15g, mã thầy 10g, tuyết lê 1 quả, đường phèn vừa đủ. Mã thầy bóc vỏ giã nát; lê gọt vỏ, bỏ lõi, thái nhỏ. Tất cả 4 thứ cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, đun to lửa tới sôi, chuyển đun nhỏ lửa tới khi đặc sánh là được. Uống trong ngày tùy ý.

Nước táo, cam thảo: Táo tàu 8 quả, cam thảo tươi 6g. Hai thứ rửa sạch, cho vào nồi, đổ nước 800ml, đun nhỏ lửa còn 400ml, vớt bỏ bã. Uống hằng ngày.

Nguồn: y học thường thức


Xem chi tiết…

Chữa viêm khí phế quản mạn tính bằng hoa quả

Bệnh viêm khí phế quản mạn tính là do ho kéo dài gây ra, ho có đờm, bệnh biểu hiện chủ yếu ở hệ thống hô hấp, hay gặp ở người có tuổi. Bệnh gây nhiều trở ngại khó khăn trong sinh hoạt cũng như làm mất sức lao động của bệnh nhân.



Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh khí phế quản mạn tính bằng các loại hoa quả sẵn có, dễ thực hiện.

Bài 1: Bột quýt hồng (quýt tàu khô) 10g, bột gạo 500g, đường trắng 200g. Lấy bột quýt hồng và đường trắng cho vào trong hộp đảo đều. Trải một lớp vải sạch lên lồng hấp, cho bột gạo lên, để lửa to hấp nửa tiếng, lấy ra để nguội dùng dao ép bột gạo chín, rắc bột quýt hồng, đường lên, lại cho một lớp bánh bột gạo, ép xuống, lấy dao cắt thành miếng nhỏ là có thể ăn được.

Tác dụng: Kiện vị tiêu thức ăn, trị ho đờm, có thể phụ trợ trị ăn không ngon miệng, tiêu hóa không tốt, ho nhiều đờm.

Bài 2: Gà mái non 1 con, quýt hồng (khô) 25g, nõn rau cải dầu 100g, gia vị hành gừng vừa đủ. Quýt hồng ngâm nước ấm, rửa sạch đất cát, rau cải dầu cắt nõn rửa sạch, sau khi luộc để nguội. Hành thái đoạn, gừng thái miếng mỏng. Gà mái vặt lông, bỏ ngũ tạng, rửa sạch, cho gà vào nồi ngập nước, đun sôi bỏ bọt, cho quýt hồng, hành, gừng, để lửa nhỏ ninh 3 – 4 tiếng, khi thấy gà nhừ, cho gia vị và rau đã luộc qua vào, bỏ hành gừng ra, đợi sôi thêm 2 lần thì có thể ăn được.

Tác dụng: Trị ho hóa đờm, thanh phổi ức hỏa, thích hợp dùng cho những người già khí đoản, phổi nhiệt ho…

Bài 3: Quất vàng 300g, đường cát 300g. Quất vàng rửa sạch, bỏ hạt, ép bẹp, lấy đường trắng ướp 1 ngày, sau đó cho vào nồi nấu đến khi khô nước, cho ra đĩa để nguội, lại cho đường trắng vào phơi khô, ăn mấy quả trước và sau khi ăn cơm.

Tác dụng: Khai vị tiêu thức ăn, nhuận phổi hóa đờm. Vỏ quất vàng khai vị nhuận khí, tiêu thức ăn hóa đờm, trong chứa dầu, có tác dụng kích thích đường tiêu hóa, có lợi cho vị trưởngvà bài ra khí, có thể thúc đẩy dịch vị bài tiết, trợ tiêu hóa, có thể kích thích đường hô hấp, khiến bài tiết dịch tăng, làm loãng dịch đờm. Ruột quả khai vị lý khí, trị ho nhuận phế.

Bài 4: Quả trám tươi 50g, quả mơ 10g, đường trắng vừa đủ. Quả trám, quả mơ bổ ra, cho nước vào đun 20 phút, bỏ bã lấy nước, lấy đường trắng làm gia vị, có thể dùng trám khô 10g, uống thay trà.

Tác dụng: Thanh nhiệt giải độc, bồi bổ sức khỏe, nhuận táo, lợi yết hầu. Quả mơ có vị chua chát, tính bình, tác dụng hóa đờm trị ho, bồi bổ sức khỏe, nhuận táo, có thể tiêu đờm. Quả mơ kết hợp với quả trám có tác dụng thanh nhiệt giải độc, bồi bổ sức khỏe, nhuận táo, thường xuyên uống có thể lợi yết hầu nhuận họng, những người họng đau sưng, ho đờm, giọng không trong uống rất tốt.

Bài 5: Đơn bì (mẫu đơn bì) 50g, hạnh nhân 50g, đường phèn vừa đủ. Lấy 2 vị trên nghiền nhỏ, cho đường vừa đủ, uống vàobuổi sáng, buổi tối mỗi lần 9g, một liệu trình là 10 ngày.

Tác dụng: Khử đờm trị ho, thích hợp dùng trị bệnh viêm phế quản mạn tính.

Bài 6: Quả la hán 20g, nước 500ml. Cho quả la hán vào cốc, cho nước sôi đậy lại, ngâm 30 phút, uống ấm.

Tác dụng: Trị ho hóa đờm, thanh nhiệt nhuận phế.

Bài 7: Phổi lợn 250g, bắc hạnh 10g, nước gừng 1-2 thìa canh. Phổi lợn thái miếng, rửa sạch, cho bắc hạnh và nước vào nấu canh, khi canh được cho nước gừng vào, gia vị vừa đủ, uống canh ăn phổi lợn.

Tác dụng: Hóa đờm trị ho, bổ phế nhuận táo.

Bài 8: Hạnh nhân 20 hạt, thạch vĩ 30g, đường phèn 15g. Hạnh nhân bỏ vỏ, áo, nghiền nhỏ và cho cùng thạch vĩ vào nồi, cho 2 bát nước nấu đến khi còn 1 bát, bỏ bã thuốc cho đường phèn vào, đợi đường tan thì uống.

Tác dụng: Hóa đờm định suyễn.

Bài 9: Quả la hán nửa quả, hồng khô 2-3 quả, một chút đường phèn. Lấy quả la hán rửa sạch và quả hồng khô, cho 2 bátnước sắc còn 1 bát, cho ít đường phèn, bỏ bã, một ngày chia 3 lần uống.

Tác dụng: Thanh nhiệt khử hóa đờm, trị ho suyễn.

Bài 10: Ý dĩ nhân 30g, hạnh nhân 10g, đường phèn một chút. Lấy ý dĩ nhân nấu cháo, đợi khi gần chín cho hạnh nhân vào, để lửa nhỏ nấu đến khi chín, cho đường phèn, ăn vào buổi tối, sáng.

Tác dụng: Hóa đờm bình suyễn.

Nguồn: y học thường thức
Xem chi tiết…

Yếu tố nguy cơ gây viêm phế quản là gì ?

Yếu tố nguy cơ gây viêm phế quản là gì ?Tác nhân gây viêm phế quản cấp thường do: virut và nhóm vi khuẩn không điển hình gây ra 50 – 90% các trường hợp bệnh. Thường gặp là các virut : Rhino, Echo, Adeno, Myxo, Influenza và Herpes.



Yếu tố nguy cơ
Riêng ở trẻ em hay gặp virut hợp bào hô hấp và virut á cúm. Vi khuẩn không điển hình gây bệnh hay gặp là Mycoplasma Pneumonia, Chlamydia. Các vi khuẩn điển hình gây bệnh thường do viêm lan từ đường hô hấp trên xuống phế quản gồm: liên cầu, phế cầu, Heamophilus influenzae, Moraxella catarrhalis, những vi khuẩn này thường gây bội nhiễm sau nhiễm virut. viêm phế quản cấp cũng hay gặp sau khi cơ thể bị các bệnh: sởi, thuỷ đậu, ho gà, thương hàn, bạch hầu.

Các yếu tố hoá, lý tạo nguy cơ viêm phế quản là: khí độc clo, amoniac, bụi bẩn, khói thuốc lá, không khí quá khô hoặc ẩm, lạnh, quá nóng, thay đổi thời tiết, bị nhiễm lạnh, thể lực yếu, mắc bệnh đường hô hấp trên; trẻ em, người lớn bị dị ứng nặng nổi mề đay.

Chữa trị và phòng bệnh
Điều trị viêm phế quản cấp phải sử dụng kháng sinh khi có bội nhiễm hoặc người có nguy cơ biến chứng. Thuốc có thể dùng là: amoxicilin, erythromyxin, cephalexin. Chống co thắt phế quản dùng thuốc theophylin, salbutamol. Thuốc an thần, kháng histamin. Có thể dùng prednisolon đối với các trường hợp ho kéo dài có co thắt phế quản thời gian ngắn  từ 5 – 10 ngày. Bệnh nhân ho khan cần dùng thuốc giảm ho như tecpin-codein, paxeladine. Giai đoạn ho khạc đờm dùng thuốc long đờm.
Phòng bệnh cần giữ ấm, tránh bị nhiễm lạnh, tránh hít thở phải bụi bẩn, khói, hơi khí độc. Tránh các thức ăn hay thuốc gây dị ứng. Bỏ hút thuốc lá, tránh tiếp xúc với các tác nhân lý, hoá gây độc.

Nguồn: sức khỏe y khoa
Xem chi tiết…

Hậu quả bệnh khí phế thũng

Khí phế thũng là một bệnh tiến triển, lâu ngày và là nguyên nhân hàng đầu gây thở hụt hơi (hơi thở ngắn).



Ở những bệnh nhân bị khí phế thũng, những nhu mô phổi cần thiết để giữ cho chức năng và hình dạng của phổi được bình thường bị phá hủy. Nó nằm trong một nhóm các bệnh có tên gọi chung là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay COPD (chronic obstructive pulmonary disease).

 Khí phế thũng được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn do sự phá hủy nhu mô phổi xung quanh những đường dẫn khí nhỏ, được gọi là các tiểu phế quản, làm cho chúng không thể giữ được hình dạng bình thường khi bệnh nhân thở ra.

Nhóm bệnh này là nguyên nhân xếp hàng thứ 4 gây tử vong ở Hoa Kỳ. Không như bệnh tim mạch và những nguyên nhân gây tử vong khác, tỷ lệ tử vong do COPD đang có chiều hướng tăng lên.

Bệnh khí phế thũng thay đổi cấu trúc của phổi theo một số cách quan trọng.

Bình thường phổi rất xốp và đàn hồi. Khi hít vào, thành ngực nở ra, làm phổi cũng nở ra. Tương tự như khi một miếng xốp đang bị bóp chặt khi được thả ra sẽ hút nước vào bên trong nó, phổi cũng hút không khí vào bên trong nó khi thành ngực nở ra. Không khí đi vào qua khí quản, các phế quản (hai ống dẫn khí chính đi vào phổi phải và phổi trái).

 Hai ống này tiếp tục chia ra thành những ống nhỏ hơn và nhỏ hơn nữa đến đơn vị nhỏ nhất được gọi là phế nang. Phế nang là cấu trúc nhỏ nhất trong phổi, nó là một túi khí được sắp xếp tương tự như một chùm nho. Phế nang nằm ở đầu tận của ống dẫn khí nhỏ nhất có tên là tiểu phế quản. Các phế nang và tiểu phế quản là những cấu trúc rất quan trọng của phổi giúp nó thực hiện tốt chức năng của mình. Đó cũng chính là những cấu trúc bị phá hủy trong bệnh khí phế thũng.

Miếng xốp hút nước được là do tất cả những lỗ nhỏ li ti bên trong nó nở ra cùng một lúc sau khi được vắt khô. Nếu những lỗ này lớn hơn, miếng xốp không thể hút nước nhiều được. Đó là do những lỗ lớn không thể tự nở lớn ra bằng với nhiều lỗ nhỏ hơn. Hãy tưởng tượng phổi cũng tương tự như vậy sẽ hiểu được dễ dàng hơn vì sao khí phế thũng lại gây suy giảm chức năng phổi. Phổi cần phải có tính đàn hồi để có thể dãn ra và co lại tốt. Cũng tương tự như miếng xốp, phổi cần rất nhiều phế nang (hàng trăm triệu) để hút đủ khí vào bên trong. Các phế nang càng ít và càng lớn hơn thì hiệu quả sẽ càng kém đi.

Nguồn: sức khỏe

Xem chi tiết…

Viêm thanh khí phế quản cấp là gì?

Viêm thanh khí phế quản cấp, từ y khoa thường gọi là Croup. Là một bệnh lý viêm nhiễm cấp tính vùng hạ thanh môn do siêu vi trùng, dẫn đến hậu quả là trẻ bị khàn tiếng, thở rít, ho khan.



Những trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp thường khởi đầu bằng những triệu chứng của cảm như ho, sổ mũi, sốt nhẹ, sau đó 1 – 3 ngày bắt đầu có triệu chứng khàn giọng, khó thở, thở rít, nhất là vào lúc thời tiết trở lạnh như giữa đêm. Lứa tuổi thường mắc phải bệnh này là dưới 5 tuổi, do đường thở hẹp nên khi viêm nhiễm gây phù nề làm cho đường dẫn khí càng trở nên chít hẹp hơn, gây nên triệu chứng khó thở.

Nhận diện viêm thanh khí phế quản cấp:

Có thể nhận biết trẻ có bị viêm thanh khí phế quản cấp hay không bằng cách dựa vào các triệu chứng điển hình của bệnh như:
- Tiếng thở rít thì hít vào: bạn quan sát trẻ thở sẽ thấy mỗi lần hít vào trẻ phát ra âm thanh như tiếng rít, nghe thô ráp.
- Ho khan
- Khàn tiếng
- Khó thở, mức độ khó thở nhiều hay ít sẽ tùy thuộc vào độ nặng của bệnh.

Nhận diện các dấu hiệu nguy hiểm cần đưa trẻ đi bệnh viện ngay:

Cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất ngay khi có một trong các dấu hiệu sau đây:
- Thở nhanh, có thể xác định bằng cách đếm nhịp thở của trẻ thấy ≥ 50 nhịp/ phút
- Khó ngủ, bứt rứt và đổ mồ hôi
- Màu môi trở nên tái nhợt
- Phần mô cơ ở 2 bên cổ hay ở giữa các xương sườn lõm xuống mỗi khi trẻ cố gắng hít thở
Một điều cần lưu ý là các triệu chứng của viêm thanh khí phế quản cấp có thể trùng lắp với một số bệnh cảnh khác như dị vật đường thở, viêm nắp thanh môn, vì vậy cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện khi thấy có các biểu hiện: sốt cao, thở mệt, khò khè nhất là khi thở ra, khó nuốt hoặc đột ngột ho sặc sụa

Chăm sóc trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp tại nhà:

Không phải tất cả trẻ bị viêm thanh khí phế quản cấp đều phải nhập viện điều trị. Nếu trẻ không có các dấu hiệu nguy hiểm đã nêu và tiếng thở rít chỉ xuất hiện khi khóc thì trẻ vẫn có thể điều trị ngoại trú tại nhà và tái khám theo lịch hẹn. Khi đó, cần lưu ý chăm sóc trẻ tại nhà theo hướng dẫn sau:
- Thường xuyên cho trẻ uống nước
- Nếu trẻ sốt cao hoặc đau họng, có thể cho trẻ uống thuốc hạ sốt và giảm ho
Tăng độ ẩm trong không khí có thể sẽ làm trẻ cảm thấy dễ chịu hơn. Bạn có thể đặt trẻ trong bồn tắm nước ấm hoặc dùng vòi hoa sen, và dĩ nhiên là bạn phải luôn luôn để mắt đến trẻ.

( Theo BS Như Huỳnh)

Xem chi tiết…