Không khí bẩn và hệ lụy ung thư

Khi không khí ô nhiễm, sức khỏe của con người bị đe dọa bởi các bệnh viêm phổi, hen suyễn, ung thư, viêm khí quản, tim mạch, suy nhược thần kinh…, làm giảm tuổi thọ. Nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất là người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 15 tuổi, người đang mang bệnh, người thường làm việc ngoài trời…


Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hôm 17-10 đã xếp ô nhiễm không khí ngoài trời là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây các căn bệnh ung thư ở người, hơn cả việc hút thuốc thụ động. Tỉ lệ tử vong có sự khác biệt lớn mà khu vực Đông Nam Á là nghiêm trọng nhất. Phương án khẩn cấp xử lý ô nhiễm không khí đang được nhiều quốc gia quan tâm.

Đây là lần đầu tiên Viện quốc tế chuyên nghiên cứu về bệnh ung thư (IARC) - thuộc WHO - coi ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây ra các căn bệnh chết người này. Nguồn gây ô nhiễm lớn nhất là khí thải từ giao thông vận tải, các nhà máy điện, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.

"Nước bị ô nhiễm có thể xử lý lọc sạch, đun sôi trước khi uống, còn không khí bị ô nhiễm thì con người phải thở hít trực tiếp..., gây ra nhiều bệnh tật”, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) TS Hoàng Dương Tùng cảnh báo. Gần như 100% đô thị lớn của nước ta hiện đang bị ô nhiễm bụi. Ô nhiễm không khí ở ta tiếp tục gia tăng chủ yếu từ giao thông do 100% xe máy chưa được kiểm soát nguồn thải. Những hạt bụi nhỏ liti (PM2.5) lơ lửng trong không khí có thể xâm nhập sâu vào phổi, gây ung thư và nhiều bệnh về đường hô hấp.

Trong khi các chuyên gia quốc tế đánh giá Việt Nam là 1 trong 10 nước ô nhiễm không khí nặng nề nhất. Vấn đề này ở ta tiếc thay chưa được quan tâm đúng mức. Việc quản lý chất lượng không khí vẫn đang "cha chung không ai khóc”, chồng chéo giữa các bộ ngành. Chính phủ giao Bộ TN&MT thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về môi trường, trong đó có không khí, nhưng rốt cục lại giao cho Bộ GTVT kiểm soát ô nhiễm không khí đô thị, cải thiện chất lượng không khí đô thị. Việc đánh giá, kiểm soát nguồn thải giao các Bộ GTVT, Công thương, Xây dựng...

Vẫn theo TS Hoàng Dương Tùng, hiện toàn bộ 9 trạm quan trắc không khí tự động ở TPHCM và 2 trạm tại Hà Nội đã "bất động”, nghĩa là mức độ ô nhiễm môi trường tại 2 thành phố lớn này đang tuột khỏi tầm kiểm soát của các chuyên gia. Lý do là thiếu kinh phí duy trì, bảo dưỡng và hiệu chỉnh, theo Cục Kiểm soát Ô nhiễm (Tổng cục Môi trường). Tình hình trạm quan trắc "bất động” hoặc hoạt động cầm chừng còn xảy ra tại nhiều địa phương.

Công cụ kiểm soát ô nhiễm không khí là các trạm quan trắc vừa yếu lại vừa thiếu, đã không cập nhật số liệu về chất lượng không khí tại Hà Nội, TPHCM…, nên cũng không công khai thông tin mọi trường hợp phát thải vượt mức cho phép cho người dân biết. Mỗi năm Hà Nội cấp khoảng 1,5 tỷ đồng để duy trì sự hoạt động của các trạm quan trắc song chỉ đủ duy trì đội ngũ kỹ thuật, chứ không thể mua sắm trang thiết bị thay thế.

Theo đánh giá của WHO, nếu chất lượng không khí tại Hà Nội tiếp tục đi xuống như hiện nay, số người nhiễm bệnh liên quan tới ô nhiễm không khí như viêm phế quản cấp và mãn tính, hen suyễn, các vấn đề về tim mạch... sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Cần mạnh tay xử lý ô nhiễm không khí.

Tổng cục Môi trường đang triển khai xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, với sự hỗ trợ từ Mạng lưới Không khí Sạch Việt Nam. Dự kiến cuối năm nay, Tổng cục sẽ trình lãnh đạo Bộ TN&MT dự thảo Kế hoạch để đưa vào chương trình xây dựng văn bản và trình Thủ tướng Chính phủ năm 2014. Trọng tâm giờ đây là cần xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường không khí tại các thành phố lớn, khu công nghiệp để giám sát, phát hiện ô nhiễm không khí hoặc các nguồn khí thải gây ô nhiễm.
Xem chi tiết…

Phá hủy khối u gây tắc nghẽn khí quản

Tắc nghẽn nội khí quản do u lành tính hay ác tính, có thể dẫn đến viêm phổi, xẹp phổi, suy hô hấp và tử vong.

Trong phần lớn các trường hợp, cắt bỏ tổn thương gây tắc nghẽn là không thể thực hiện được. Phá bỏ hoàn toàn khối u để làm thông thoáng đường thở là phương pháp điều trị giảm nhẹ thích hợp cho những bệnh nhân này.


Các kỹ thuật điều trị giảm nhẹ hiện đang được áp dụng tại BV Phạm Ngọc Thạch TPHCM gồm: Điều trị áp lạnh (cryotherapy), nhiệt đông cao tần (electrocautery) thông qua nội soi phế quản ống mềm hay ống cứng.

Chọn lựa phương tiện để thực hiện tùy thuộc mức độ tắc nghẽn đường thở do u nội phế quản, khả năng dung nạp gây mê toàn thân của bệnh nhân và kinh nghiệm của thủ thuật viên soi phế quản.

Phương pháp soi phế quản ống cứng có giá trị đối với u nội phế quản kích thước rất lớn, bệnh nhân có nguy cơ xảy ra suy hô hấp, vì vậy ưu tiên trong những trường hợp lâm sàng này là kiểm soát nhanh tình trạng chảy máu và nhu cầu phá hủy nhanh u nội phế quản để làm thông thoáng đường thở, đảm bảo thông khí tốt.

Kỹ thuật soi phế quản ống mềm có thể thực hiện an toàn dưới gây tê tại chỗ, có giá trị nhất trong những trường hợp u nội phế quản nằm ở vị trí ngoại biên hơn.

Nhiệt đông cao tần sử dụng dòng điện để tạo nhiệt và phá hủy mô, phá hủy nhanh khối u trong vài giây, vì thế đây là biện pháp hợp lý để làm giảm tình trạng suy hô hấp sắp xảy ra.

Nghiên cứu tại BV Phạm Ngọc Thạch TPHCM cho thấy, kỹ thuật nhiệt đông cao tần phá hủy và làm thông thoáng hoàn toàn đường thở cho 92,9% bệnh nhân và làm giảm nhẹ triệu chứng khó thở trong 100% trường hợp.

Áp lạnh sử dụng N2O để tạo lạnh phá hủy mô sống là một kỹ thuật đơn giản, không biến chứng, khung phế quản được bảo tồn. Hoại tử hoàn toàn mô đạt được sau 8 - 10 ngày.

Áp lạnh được chỉ định để điều trị những tổn thương thâm nhiễm, những u dạng chồi khí phế quản không có yêu cầu điều trị cấp cứu, những ung thư phế quản tại chổ hay vi xâm lấn. Tai biến do điều trị áp lạnh trong lòng đường dẫn khí ít xảy ra hoặc không đáng kể.

Trong ung thư phế quản, cả áp lạnh và nhiệt đông cao tần có thể có sự cộng hưởng hiệu quả khi kết hợp với xạ trị, có thể có hiệu ứng hiệp đồng khi sử dụng điều trị kết hợp áp lạnh với hóa trị hoặc xạ trị.
Xem chi tiết…

Tránh nhiễm độc trong quá trình sử dụng máy photocopy

Máy photocopy được sử dụng dựa trên nguyên lý: lợi dụng điện xung áp cực cao để phóng điện, lợi dụng ánh sáng tác dụng hình thành phần in kín để chụp tài liệu. Khi sử dụng máy, đèn thủy ngân cao áp hoặc tia lửa điện (có chứa một lượng lớn tia cực tím) có tác dụng biến đổi oxy trong không khí thành ozone.

Theo các kết quả nghiên cứu đã công bố, cơ thể rất nhạy cảm với khí ozone: khi làm việc trong môi trường có nồng độ khí ozone từ 10mg/m3 trở lên, nếu không có biện pháp bảo vệ, phổi sẽ tồn đọng một lượng khí ozone lớn dẫn đến bệnh sưng phổi nước nhiễm độc tính. Riêng những người tiếp xúc máy photocopy trong thời gian dài có nguy cơ bị các bệnh về đường hô hấp như: ho, mũi họng khô, khó thở, viêm khí quản..... Ở mức độ nặng hơn, sẽ xuất hiện những bệnh lý liên quan đến thần kinh như đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực và khả năng miễn dịch...

Chưa kể các loại mực của máy photocopy (mực nước, mực bột) cũng có tác hại không nhỏ đối với sức khỏe. Chẳng hạn mực bột được sản xuất từ nguyên liệu than đen đặc biệt; ôxít cácbon thơm trong than đen không những có khả năng làm thay đổi kết cấu của tế bào nhiễm sắc thể bình thường mà còn có thể gây ung thư. Còn mực nước được làm từ mực bột có hòa trộn dung dịch ôxít cácbon. Dung dịch này dễ sôi ở nhiệt độ thấp, dễ bốc hơi và nếu điều kiện thông gió trong phòng không tốt, bụi than đen bám lại trong phòng sẽ tăng nguy cơ gây bệnh cho những người làm việc với máy.

Để giảm bớt tác hại của máy photocopy, người trực tiếp đứng máy nên tránh nhìn vào ánh sáng phát ra từ máy, đậy nắp máy trước khi vận hành, cách này sẽ giúp hạn chế việc phóng thích ozone ra bên ngoài. Kế đến, cần chú ý đến nơi đặt máy, không nên đặt nhiều máy photocopy quá sát nhau trong phòng làm việc kín. Chỗ đặt máy cần phải thông thoáng, nếu có gió tự nhiên và ánh sáng mặt trời thì càng tốt. Để bảo đảm cho sức khỏe, người đứng máy nên mang khẩu trang khi vận hành máy, tránh sao chụp liên tục. Đứng máy khoảng một tiếng thì nên dừng nghỉ 5 – 10 phút. Ngoài ra, mực in nên chọn loại ít thành phần độc hại như chì hay những chất hữu cơ khó phân hủy (POP).
Xem chi tiết…

Những dấu hiệu báo hiệu ung thư

Đôi khi một vài dấu hiệu quen thuộc của cơ thể có thể là lời cảnh báo nguy cơ mắc bênh ung (trong đó có ung thư khí quả)cho bạn.
Những dấu hiệu này rất khó nhận biết, thậm chí còn dễ bị hiểu nhầm là bệnh khác, từ đó khiến chúng ta trì hoãn việc trị bệnh. Dưới đây là 14 triệu chứng ít ngờ nhất của căn bệnh ung thư. 


1. Cân năng giảm đột ngột

Trong vòng mấy tháng mà cân nặng giảm đáng kể mà không rõ nguyên nhân. Vậy bạn hãy cẩn thận với ung thư tuyến tụy, ung thư dạ dày, ung thư thực phản, ung thư phổi.

Khi bị ung thư, những thay đổi chuyển hóa, cơ thể đốt cháy calori nhanh hơn mức calori được thay thế. Những thay đổi chuyển hóa này gây ra bởi các yếu tố trung gian viêm và các yếu tố gây phân giải protein được sản sinh ra do hậu quả của ung thư. 

2. Sốt

Hầu như tất cả bệnh nhân ung thư đều có gian đoạn phát bệnh và trị bệnh, có thể do hệ miễn dịch bị suy giảm nên dễ bị sốt, một số bệnh ung thư còn có triệu chứng mệt mỏi… Cho nên, nếu bạn thấy cơ thể có dấu hiệu bị sốt thường xuyên, hãy nhanh chóng tới bệnh viện để kiểm tra sức khỏe tổng thể.

3. Đau đầu

Trong nhiều trường hợp, đau đầu là một trong những triệu chứng lớn của ung thư di căn. Tuy nhiên, thời kỳ đầu của ung thư xương và ung thư tinh hoàn hay ung thư não đều có triệu chứng đau đầu, đó là do hệ thần kinh trung ương bị tác động mạnh.

4. Da thay đổi bất thường

Nếu nốt ruồi có sự thay đổi bất thường về ngoại hình, kích thước và màu sắc cũng như có tổn thương mới trên da, thì nên cẩn thận với ung thư da. Vết thương trên da của những người hút thuốc lá, nghiên rượu càng lâu lành hơn.

Ung thư da luôn khởi đầu với những thương tổn tiền ung thư và những tổn thương này thường phát ngay ra ngoài da dưới các hình thức là sự bất thường trên da.

5. Thói quen đi vệ sinh thay đổi hoặc chức năng bàng quang bất thường

Táo bón hoặc tiêu chảy nhiều lần, đi tiểu ra máu, tiểu khó hoặc rối loạn chức năng bàng quang… đều có thể là dấu hiệu cảnh báo ung thư đại trực tràng hay ung thư bàng quang. Các tế bào ung thư có mầm mống phát triển có thể chèn vào các cơ quan của hệ bài tiết, dẫn đến các thói quen trên.

6. Khoang miệng xuất hiện các nốt trắng hoặc đầu lưỡi xuất hiện đốm trắng

Các đốm trắng trong niêm mạc miêng để lâu không điều trị dễ phát triển thành viêm và về lâu dài sẽ chuyển sang ung thư khoang miệng.

Vú hay các bộ phận khác của cơ thể tăng sản hoặc có khối u cũng là dấu hiệu ung thư. Ảnh minh họa

7. Xuất huyết bất thường hoặc tiết dịch bất thường

Trong đờm có máu nên cảnh giác với ung thư phổi, đi vệ sinh ra máu thì phải giác với ung thư trực tràng hoặc ung thư ruột kết, ung thư cổ tử cung hoặc nội mạc ngoại tử cung bất thường gây chảy máu âm đạo, đi tiểu ra máu có thể là một trong những triệu chứng điển hình ung thư bàng quang và ung thư thận, đầu vú tiết dịch ra máu lại có thể là tín hiệu của ung thư vú.

8. Vú hay các bộ phận khác của cơ thể tăng sản hoặc có khối u

Những triệu chứng này cũng có thể do nguyên nhân khác gây ra hoặc là biểu hiện của bệnh ung thư vú. Vì vậy, bạn cần đến bệnh viện kiểm tra để biết nguyên nhân chính xác.

Khoảng 90% khối u ở vú là lành tính, thường do sự thay đổi hormone. Nhưng nó cũng có thể là u nang chứa dịch. Những khối u này không thể phát triển thành ung thư nhưng nếu xuất hiện nhiều ở mô vú thì có nguy cơ cao bị ung thư.

9. Tiêu hóa không tốt hoặc khó nuốt

Các triệu chứng này liên quan tới ung thư dạ dày và ung thư thực quản. Nếu phát hiện điều trị sớm sẽ giúp việc ngăn ngừa sự phát triển của bệnh này.

Viêm thanh quản nếu bị bội nhiễm nặng sẽ dẫn đến phù nề, gây khó nuốt, nuốt đau, khó thở... Soi thì thấy dây thanh quản sưng to, phù nề, hoặc có u. 

10. Ho liên tục hoặc khản tiếng

Đây là một trong những triệu chứng chủ yếu của ung thư thanh quản. Nếu ho suốt một thời gian dài nên cẩn thận trước nguy cơ ung thư phổi hoặc ung thư dây thanh quản.

Bệnh nhân bị ung thư phổi, dây thanh quản thường gặp trở ngại trong việc thở (khó thở) do đường thở bị làm tắc nghẽn, từ đó dẫn đến ho hoặc thở khò khè, thậm chí ho ra máu.

Đi vệ sinh ra máu thì phải cảnh giác với ung thư trực tràng hoặc ung thư ruột kết. Ảnh minh họa

11. Cúm mãi không khỏi 

Dấu hiệu ban đầu của ung thư mũi họng không rõ ràng, nên việc phát hiện sớm rất khó khăn. Nếu bị chảy máu cam và có triệu chứng cảm như chảy mũi, ho ra đờm… lại mãi không khỏi hoặc người bình thường không hay cảm liên tục cảm phải cảnh giác nhanh chóng tới bệnh viện kiểm tra.

Trong nhiều trường hợp, khi có tế bào phát triển thành ung thư, nó sẽ cản trở các hệ trong cơ thể như hệ hô hâp, hệ miễn dịch, do đó, con người dễ bị cúm hơn.

12. Thường xuyên đi tiểu

Hiệp hội ung thư Mỹ cho biết, phụ nữ đau bụng dưới, sưng hoặc đau bụng, nhanh chóng có cảm giác no, buồn đi tiểu và tiểu gấp, hầu như mỗi ngày đều xuất hiện một triệu chứng trong đó cần đi khám ngay. Ngoài ra, tình trạng sưng thỉnh thoảng có thể chèn ép ruột già, do đó nếu thói quen đi vệ sinh thay đổi, cũng là một lời cảnh báo.
Xem chi tiết…

Ô nhiễm không khí - nguyên nhân hàng đầu gây ung thư

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vừa lên tiếng cảnh báo rằng không khí chúng ta hít thở hằng ngày đang chứa đầy những chất gây ung thư và cần được coi là tác nhân gây ung thư ở người.

Ô nhiễm không khí - Nguyên nhân hàng đầu gây ung thư

Cơ quan Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư (IARC) đã trích dẫn số liệu cho thấy trong năm 2010, có 223.000 người bị chết do ung thư phổi là hậu quả của ô nhiễm không khí và cũng có bằng chứng thuyết phục là ô nhiễm không khí làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang.

Ô nhiễm không khí ngoài trời, chủ yếu gồm khí thải giao thông, phát điện, khí thải công nghiệp và nông nghiệp, sưởi ấm và đun nấu trong sinh hoạt, đã được biết là làm tăng nguy cơ nhiều bệnh, bao gồm bệnh hô hấp và tim mạch. Nghiên cứu đã cho thấy trong những năm gần đây, mức độ phơi nhiễm đã tăng đáng kể ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là những nước đông dân có tốc độ công nghiệp hóa nhanh như Trung Quốc.

“Chúng tôi biết rằng ô nhiễm không khí ngoài trời không chỉ gây nguy cơ nghiêm trọng đố với sức khỏe nói chung mà còn là nguyên nhân môi trường hàng đầu dẫn đến tử vong do ung thư”, Kurt Straif, trưởng bộ phận chuyên khảo của IARC, có nhiệm vụ phân loại các tác nhân gây ung thư, nói. “Không khí mà chúng ta hít thở đang bị ô nhiễm bởi hỗn hợp nhiều chất gây ung thư”.

Trong một thông cáo được đưa ra sau hội thảo kéo dài một tuần của các chuyên gia nhằm đánh giá những bằng chứng khoa học mới nhất, IARC cho biết cả ô nhiễm không khí ngoài trời và “vật chất dạng tiểu phân”, một thành phần chính trong không khí ô nhiễm - sẽ được phân vào Nhóm 1 tác nhân gây ung thư ở người. Như vậy không khí ô nhiễm sẽ được xếp cùng với hơn 100 chất gây ung thư khác thuộc nhóm 1, bao gồm amiăng, plutoni, bụi silic, tia cực tím và khói thuốc lá.

Chương trình chuyên khảo của IARC, còn được gọi là “bách khoa toàn thư về các tác nhân ung thư”, hướng tới một nguồn bằng chứng khoa học chính thức về các chất gây ung thư. Chương trình đã phân loại nhiều hóa chất và hỗn hợp có thể là thành phần của ô nhiễm không khí, bao gồm khí thải động cơ diesel, dung môi, kim loại và bụi. Nhưng đây là lần đầu tiên các chuyên gia phân loại ô nhiễm không khí là một nguyên nhân gây ung thư.

Dana Loomis, phó trưởng bộ phận nói: “Kết quả từ nhiều nghiên cứu được tổng kết đều chỉ ra một hướng chung: nguy cơ bị ung thư phổi tăng đáng kể ở những người tiếp xúc với ô nhiễm không khí”.

Mặc dù cả thành phần và mức độ ô nhiễm có thể khác nhau rõ rệt giữa các địa phương, song IARC cho biết kết luận của họ được áp dụng cho tất cả các vùng trên toàn thế giới.

Giám đốc IARC, Christopher Wild, cho rằng quyết định của cơ quan này phân loại ô nhiễm không khí ngoài trời như một tác nhân gây ung thư ở người là bước tiến quan trọng để báo động cho các chính phủ về nguy cơ và chi phí tiềm ẩn của vấn đề này.

Có nhiều cách rất hiệu quả để giảm ô nhiễm không khí, và căn cứ vào mức độ phơi nhiễm của người dân trên toàn thế giới thì báo cáo này sẽ phát đi một tín hiệu mạnh mẽ đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải bắt tay vào hành động.
Xem chi tiết…

Cứu sống bệnh nhân hẹp khí quản gây tắc đường thở

Bệnh nhân Nguyễn Thị Mai (Hà Nội) bị ung thư tuyến giáp trong lòng khí quản vừa được phẫu thuật bằng phương pháp cắt nối và tạo hình khí quản.


Trước đó, bệnh nhân sang Singapore điều trị, song các bác sĩ ở đây nói không có khả năng phẫu thuật và chỉ định xạ trị 4 liệu trình. Sau đó, được trả về với khối u trong khí quản vẫn tiếp tục phát triển, sự khó thở ngày càng tăng. Các bác sĩ BVTƯ Quân đội 108 đã nhanh chóng phẫu thuật, cắt bỏ khối u gây tắc đường thở, nối khí quản.

TS Hoàng Quốc Toàn, Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Lồng ngực-Tim mạch, BV TƯ Quân đội 108 cho biết, thế giới mới công bố 22 ca bị hẹp do ung thư khí quản sau chạy tia được tách nối thành công. Tại Việt Nam, đây là lần đầu, đã cắt bỏ toàn bộ khối u xâm lấn khí quản, lấy mạc nối lớn dưới bụng đặt sau xương ức thành vạt ôm phủ khí quản sau cắt nối, cắt triệt để khối ung thư, cứu sống bệnh nhân.

TS Toàn cho biết, hẹp khí quản gây tắc đường thở rất thường gặp và nhanh chóng gây tử vong cho bệnh nhân nếu không được cấp cứu kịp thời. Tổn thương hẹp khí quản xảy ra do rất nhiều nguyên nhân như: Sau mở khí quản, hẹp bẩm sinh, u nguyên phát tai khí quản, có u trong trung thất, vùng cổ tuyến giáp xâm lấn, lao... và nhất là chít hẹp sau xạ trị ung thư vùng cổ. Biểu hiện, bệnh nhân khó thở tăng dần, thở có tiếng rít, có trường hợp không thở được. Nhiễm trùng hô hấp lặp đi lặp lại do bệnh nhân không thể ho, khạc được. Khi bị chít hẹp, nếu không cấp cứu kịp thời, khơi thông khí đạo, bệnh nhân sẽ tắc thở, tử vong. Nếu để thở ống lâu sẽ dẫn tới viêm phổi, viêm khí quản, nguy hiểm tính mạng.  
Xem chi tiết…

Chất độc màu da cam - thêm 1 nguyên nhân gây ung thư

Đây là một câu hỏi thường được nhiều cựu chiến binh và nhất là người dân ở các vùng bị nhiễm chất độc da cam đặt ra. Tuy vậy, câu hỏi ấy thật khó giải đáp vì nhiều lẽ.

Thứ nhất, do biểu hiện lâm sàng của tất cả các loại bệnh, các tai nạn sinh sản, các dị dạng, dị tật do chất da cam gây ra đều giống các loại đã có từ xa xưa trong xã hội loài người. Vậy trường hợp nào là bệnh do chất da cam, trường hợp nào là bệnh do các nguyên nhân khác gây ra ? Khoa học vẫn chưa khẳng định được. Nguyên nhân là do cơ chế gây bệnh của chất da cam chưa được làm rõ. Viện Y học thuộc Viện hàn lâm khoa học Mỹ có liệt kê 13 bệnh có liên quan trực tiếp đến chất da cam. Nhiều nhà khoa học cho rằng chất da cam làm suy giảm sức đề kháng, làm suy giảm toàn bộ hệ thống miễn dịch của con người nên bệnh tật do đi-ô-xin gây ra không dừng lại ở con số 13.

Thứ hai, do số lượng nạn nhân luôn biến động. Nhiều nạn nhân đã chết. Có những người chết mà không biết hoặc biết nhưng chưa được công nhận là nạn nhân da cam (NNDC). Trong những thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20 và trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 vẫn có những trẻ em sinh ra là NNDC.

Thứ ba, do thiếu nhân lực, tài lực để tiến hành công việc điều tra, khảo sát, giám định, thống kê NNDC. Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí về tiền bạc. Giá cho một mẫu xét nghiệm đi-ô-xin trong máu, mỡ người là 1.200 - 1.500 USD. Để xét nghiệm cho hàng chục vạn (chưa nói đến hàng triệu nạn nhân) là điều mà ngân sách không thể kham nổi.

Bên cạnh 3 nguyên nhân đã nêu còn có nguyên nhân do hồ sơ, giấy tờ chứng minh (là người đã từng hoạt động trong các vùng bị rải chất da cam) bị thất lạc bởi nhiều nguyên nhân. Việc công nhận là NNDC ở Việt Nam cũng như ở Mỹ và các nước khác hiện nay đều dựa vào hai tiêu chí: Nguyên nhân làm phát sinh bệnh tật và hậu quả gây ra các bệnh tật thuộc danh mục được nhà nước công nhận.


Nguyên nhân là thời gian và không gian phơi nhiễm chất da cam. Ở Việt Nam, thời gian bị phơi nhiễm được tính bắt đầu từ 10-8-1961 trở về sau. Người nào mắc những bệnh hoặc sinh con có dị dạng, dị tật tuy phù hợp với danh mục bệnh tật đã được nhà nước công nhận, nhưng xảy ra trước ngày 10-8-1961 thì không phải là NNDC. Ở Việt Nam, địa điểm phơi nhiễm được công nhận là những vùng đất từ vĩ tuyến 17 trở vào, vùng biên giới Việt-Lào, biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, 20 xã thuộc bờ bắc sông Bến Hải (Vĩnh Linh, Quảng Trị), khu vực đèo Mụ Giạ (Quảng Bình). Những người tuy có bệnh tật hoặc sinh con dị dạng, dị tật nhưng không có thời gian lao động, công tác, chiến đấu tại các vùng bị phun rải chất da cam thì không phải là nạn nhân da cam.

Về phơi nhiễm, có phơi nhiễm trực tiếp và phơi nhiễm gián tiếp. Phơi nhiễm trực tiếp là những người có tiếp xúc trực tiếp với chất da cam, bao gồm những người bị phun rải, những người sống, hoạt động trong những điểm nóng, tức vùng có tồn lưu chất độc dioxin cao. Phơi nhiễm gián tiếp là những con, cháu của những nạn nhân da cam. Họ là nạn nhân da cam do di truyền gien khiếm khuyết của ông, bà, bố, mẹ hoặc qua bú sữa mẹ là những NNDC. Không phải mọi người bị phơi nhiễm chất da cam đều mắc bệnh và không phải tất cả con, cháu của NNDC đều mắc bệnh, đó là điều mà khoa học chưa giải thích được. Theo số liệu của nữ khoa học gia người Mỹ Sten-man, ở Việt Nam có khoảng 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong đó có 1,3 triệu người là nạn nhân.

Về hậu quả, những căn bệnh được công nhận là hậu quả của tác nhân da cam theo Quyết định số 09 ngày 20/2/2008 của Bộ Y Tế công bố gồm có 17 loại bệnh: Ung thư phần mềm ; U lympho không Hodgkin ; Ung thư Hodgkin ; Ung thư phế quản-phổi ; Ung thư khí quản ; Ung thư thanh quản ; Ung thư tiền liệt tuyến ; Ung thư gan nguyên phát ; Bệnh đau xương tủy ác tính ; Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính ; Tật gai sống chẻ đôi; Bệnh trứng cá do clo; Bệnh đái tháo đường týp 2 ; Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm ; Các bất thường sinh sản ; Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của những người bị nhiễm chất độc hóa học/đi-ô-xin) ; Rối loạn tâm thần. 

Việc xác định có đúng là bệnh thuộc danh mục của Bộ Y tế công bố hay không được thực hiện thông qua Hội đồng giám định y khoa. Người được xét công nhận là NNDC phải là người có đủ hai yếu tố: nguyên nhân và hậu quả. Thiếu một trong hai yếu tố đã nêu thì không phải là NNDC.

Với người Mỹ, theo quy định của Mỹ, những ai đã đặt chân lên đất Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh mà mắc bệnh thuộc danh mục được Viện Y học Mỹ công bố đều được hưởng trợ cấp tổn thương do chất da cam. Quân nhân Mỹ thuộc lực lượng hải quân Mỹ đang khiếu nại đòi được trợ cấp như những người hoạt động trên đất liền. Họ cho rằng mình cũng bị tổn thương bởi những đám sương da cam từ đất liền bị gió thổi bay ra biển.

Việc công nhận là NNDC hiện nay được thực hiện bởi các Hội đồng giám định mà thành phần gồm có đại diện của các ngành : Y tế, Lao động-Thương binh và xã hội, Hội nạn nhân chất độc da cam, Hội Cựu chiến binh, MTTQ. Ở Việt Nam hiện chưa tiến hành tổng điều tra số lượng NNDC trong toàn quốc. Con số 4,1 triệu người phơi nhiễm và 1,3 triệu nạn nhân là do nữ khoa học gia người Mỹ Sten-man nêu ra. Bà Sten-man cho rằng con số đó chưa đầy đủ bởi bà thống kê căn cứ vào số dân tại các khu vực bị phun rải theo bản đồ của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Số dân sống ngoài các khu dân cư, sống trong rừng núi hoặc sống trong các vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát chưa được tính đến. Nhà khoa học Nga Xa-phrô-nốp lại cho rằng số người Việt Nam bị phơi nhiễm là 20 triệu người, bao gồm cả số dân ở vùng bị trực tiếp phun rải và vùng lan tỏa theo làn gió và dòng nước. Trong thời chiến, có những nơi, những thùng chứa chất da cam sau khi hút hết được đem bán cho dân hoặc cho không. Người dân đã sử dụng các thùng ấy để chứa nước, cất giữ lúa, khoai, sắn, đỗ, lạc.. và họ đã tự đầu độc mình mà không biết. Có một thực tiễn chứng minh là trong số 63 tỉnh, thành trong toàn quốc thì hầu như tỉnh, thành nào cũng có NNDC.

Theo tài liệu của Mỹ, đến đầu năm 1979 đã có 52.220 người tham gia vụ kiện tập thể của các cựu chiến binh Mỹ bị nhiễm chất da cam đòi bồi thường(1). Theo thống kê của Hội NNDC Hàn Quốc, tính đến 31-12-2005 đã có 93.830 cựu chiến binh được thừa nhận là NNDC. Theo Hội chất độc da cam Ca-na-da, tại căn cứ Ghết-tao, nơi Mỹ phun rải thí nghiệm chất da cam trước đây cũng có 1.453 nạn nhân. Riêng số NNDC của các nước tham chiến cùng Mỹ như Úc, New Zealand, Thái Lan chưa được thống kê.

Thông qua vụ kiện của các NNDC Việt Nam tại Mỹ năm 2004, nhân dân của những nước đã từng mua và sử dụng chất diệt cỏ của Mỹ, từng có các nhà máy hóa chất Mỹ hoạt động hoặc là kho lưu giữ, trung chuyển hay bị Mỹ đem chôn giấu lén lút chất da cam còn lại sau chiến tranh Việt Nam (như Hàn Quốc, Nhật Bản) mới biết rằng họ cũng là NNDC. Do đó, tổng số nạn nhân chất da cam của Mỹ sẽ không dừng lại ở một, hai triệu người mà nhiều hơn thế. Họ chính là những nguyên đơn tiềm năng của các vụ kiện đòi Chính phủ mình, Chính phủ Mỹ hoặc các công ty hóa chất Mỹ phải bồi thường.

Trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới, hiếm có cuộc chiến tranh nào gây tổn hại nhiều sinh mạng cho một quốc gia như cuộc chiến tranh hóa học mà Mỹ đã gây ra ở Việt Nam. Thiệt hại do hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-da-ki trong chiến tranh thế giới lần hai là 210.000 người, song thiệt hại về người do chất độc da cam/dioxin gây ra lớn hơn gấp nhiều lần con số ấy.

Theo báo cáo hàng năm của Bộ CCB Mỹ, số lượng CCB da cam Mỹ nhận được trợ cấp thương tật đã tăng lên 20% trong giai đoạn 2003-2008, đạt đến con số 1.015.410 người. Số lượng nạn nhân da cam Mỹ lớn hơn con số này. Còn nhiều CCB Mỹ vẫn chưa được công nhận là nạn nhân da cam. 
Xem chi tiết…