Chất độc màu da cam - thêm 1 nguyên nhân gây ung thư

Đây là một câu hỏi thường được nhiều cựu chiến binh và nhất là người dân ở các vùng bị nhiễm chất độc da cam đặt ra. Tuy vậy, câu hỏi ấy thật khó giải đáp vì nhiều lẽ.

Thứ nhất, do biểu hiện lâm sàng của tất cả các loại bệnh, các tai nạn sinh sản, các dị dạng, dị tật do chất da cam gây ra đều giống các loại đã có từ xa xưa trong xã hội loài người. Vậy trường hợp nào là bệnh do chất da cam, trường hợp nào là bệnh do các nguyên nhân khác gây ra ? Khoa học vẫn chưa khẳng định được. Nguyên nhân là do cơ chế gây bệnh của chất da cam chưa được làm rõ. Viện Y học thuộc Viện hàn lâm khoa học Mỹ có liệt kê 13 bệnh có liên quan trực tiếp đến chất da cam. Nhiều nhà khoa học cho rằng chất da cam làm suy giảm sức đề kháng, làm suy giảm toàn bộ hệ thống miễn dịch của con người nên bệnh tật do đi-ô-xin gây ra không dừng lại ở con số 13.

Thứ hai, do số lượng nạn nhân luôn biến động. Nhiều nạn nhân đã chết. Có những người chết mà không biết hoặc biết nhưng chưa được công nhận là nạn nhân da cam (NNDC). Trong những thập kỷ 70, 80, 90 của thế kỷ 20 và trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 vẫn có những trẻ em sinh ra là NNDC.

Thứ ba, do thiếu nhân lực, tài lực để tiến hành công việc điều tra, khảo sát, giám định, thống kê NNDC. Công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí về tiền bạc. Giá cho một mẫu xét nghiệm đi-ô-xin trong máu, mỡ người là 1.200 - 1.500 USD. Để xét nghiệm cho hàng chục vạn (chưa nói đến hàng triệu nạn nhân) là điều mà ngân sách không thể kham nổi.

Bên cạnh 3 nguyên nhân đã nêu còn có nguyên nhân do hồ sơ, giấy tờ chứng minh (là người đã từng hoạt động trong các vùng bị rải chất da cam) bị thất lạc bởi nhiều nguyên nhân. Việc công nhận là NNDC ở Việt Nam cũng như ở Mỹ và các nước khác hiện nay đều dựa vào hai tiêu chí: Nguyên nhân làm phát sinh bệnh tật và hậu quả gây ra các bệnh tật thuộc danh mục được nhà nước công nhận.


Nguyên nhân là thời gian và không gian phơi nhiễm chất da cam. Ở Việt Nam, thời gian bị phơi nhiễm được tính bắt đầu từ 10-8-1961 trở về sau. Người nào mắc những bệnh hoặc sinh con có dị dạng, dị tật tuy phù hợp với danh mục bệnh tật đã được nhà nước công nhận, nhưng xảy ra trước ngày 10-8-1961 thì không phải là NNDC. Ở Việt Nam, địa điểm phơi nhiễm được công nhận là những vùng đất từ vĩ tuyến 17 trở vào, vùng biên giới Việt-Lào, biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, 20 xã thuộc bờ bắc sông Bến Hải (Vĩnh Linh, Quảng Trị), khu vực đèo Mụ Giạ (Quảng Bình). Những người tuy có bệnh tật hoặc sinh con dị dạng, dị tật nhưng không có thời gian lao động, công tác, chiến đấu tại các vùng bị phun rải chất da cam thì không phải là nạn nhân da cam.

Về phơi nhiễm, có phơi nhiễm trực tiếp và phơi nhiễm gián tiếp. Phơi nhiễm trực tiếp là những người có tiếp xúc trực tiếp với chất da cam, bao gồm những người bị phun rải, những người sống, hoạt động trong những điểm nóng, tức vùng có tồn lưu chất độc dioxin cao. Phơi nhiễm gián tiếp là những con, cháu của những nạn nhân da cam. Họ là nạn nhân da cam do di truyền gien khiếm khuyết của ông, bà, bố, mẹ hoặc qua bú sữa mẹ là những NNDC. Không phải mọi người bị phơi nhiễm chất da cam đều mắc bệnh và không phải tất cả con, cháu của NNDC đều mắc bệnh, đó là điều mà khoa học chưa giải thích được. Theo số liệu của nữ khoa học gia người Mỹ Sten-man, ở Việt Nam có khoảng 4,8 triệu người bị phơi nhiễm, trong đó có 1,3 triệu người là nạn nhân.

Về hậu quả, những căn bệnh được công nhận là hậu quả của tác nhân da cam theo Quyết định số 09 ngày 20/2/2008 của Bộ Y Tế công bố gồm có 17 loại bệnh: Ung thư phần mềm ; U lympho không Hodgkin ; Ung thư Hodgkin ; Ung thư phế quản-phổi ; Ung thư khí quản ; Ung thư thanh quản ; Ung thư tiền liệt tuyến ; Ung thư gan nguyên phát ; Bệnh đau xương tủy ác tính ; Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính và bán cấp tính ; Tật gai sống chẻ đôi; Bệnh trứng cá do clo; Bệnh đái tháo đường týp 2 ; Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm ; Các bất thường sinh sản ; Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của những người bị nhiễm chất độc hóa học/đi-ô-xin) ; Rối loạn tâm thần. 

Việc xác định có đúng là bệnh thuộc danh mục của Bộ Y tế công bố hay không được thực hiện thông qua Hội đồng giám định y khoa. Người được xét công nhận là NNDC phải là người có đủ hai yếu tố: nguyên nhân và hậu quả. Thiếu một trong hai yếu tố đã nêu thì không phải là NNDC.

Với người Mỹ, theo quy định của Mỹ, những ai đã đặt chân lên đất Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh mà mắc bệnh thuộc danh mục được Viện Y học Mỹ công bố đều được hưởng trợ cấp tổn thương do chất da cam. Quân nhân Mỹ thuộc lực lượng hải quân Mỹ đang khiếu nại đòi được trợ cấp như những người hoạt động trên đất liền. Họ cho rằng mình cũng bị tổn thương bởi những đám sương da cam từ đất liền bị gió thổi bay ra biển.

Việc công nhận là NNDC hiện nay được thực hiện bởi các Hội đồng giám định mà thành phần gồm có đại diện của các ngành : Y tế, Lao động-Thương binh và xã hội, Hội nạn nhân chất độc da cam, Hội Cựu chiến binh, MTTQ. Ở Việt Nam hiện chưa tiến hành tổng điều tra số lượng NNDC trong toàn quốc. Con số 4,1 triệu người phơi nhiễm và 1,3 triệu nạn nhân là do nữ khoa học gia người Mỹ Sten-man nêu ra. Bà Sten-man cho rằng con số đó chưa đầy đủ bởi bà thống kê căn cứ vào số dân tại các khu vực bị phun rải theo bản đồ của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Số dân sống ngoài các khu dân cư, sống trong rừng núi hoặc sống trong các vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát chưa được tính đến. Nhà khoa học Nga Xa-phrô-nốp lại cho rằng số người Việt Nam bị phơi nhiễm là 20 triệu người, bao gồm cả số dân ở vùng bị trực tiếp phun rải và vùng lan tỏa theo làn gió và dòng nước. Trong thời chiến, có những nơi, những thùng chứa chất da cam sau khi hút hết được đem bán cho dân hoặc cho không. Người dân đã sử dụng các thùng ấy để chứa nước, cất giữ lúa, khoai, sắn, đỗ, lạc.. và họ đã tự đầu độc mình mà không biết. Có một thực tiễn chứng minh là trong số 63 tỉnh, thành trong toàn quốc thì hầu như tỉnh, thành nào cũng có NNDC.

Theo tài liệu của Mỹ, đến đầu năm 1979 đã có 52.220 người tham gia vụ kiện tập thể của các cựu chiến binh Mỹ bị nhiễm chất da cam đòi bồi thường(1). Theo thống kê của Hội NNDC Hàn Quốc, tính đến 31-12-2005 đã có 93.830 cựu chiến binh được thừa nhận là NNDC. Theo Hội chất độc da cam Ca-na-da, tại căn cứ Ghết-tao, nơi Mỹ phun rải thí nghiệm chất da cam trước đây cũng có 1.453 nạn nhân. Riêng số NNDC của các nước tham chiến cùng Mỹ như Úc, New Zealand, Thái Lan chưa được thống kê.

Thông qua vụ kiện của các NNDC Việt Nam tại Mỹ năm 2004, nhân dân của những nước đã từng mua và sử dụng chất diệt cỏ của Mỹ, từng có các nhà máy hóa chất Mỹ hoạt động hoặc là kho lưu giữ, trung chuyển hay bị Mỹ đem chôn giấu lén lút chất da cam còn lại sau chiến tranh Việt Nam (như Hàn Quốc, Nhật Bản) mới biết rằng họ cũng là NNDC. Do đó, tổng số nạn nhân chất da cam của Mỹ sẽ không dừng lại ở một, hai triệu người mà nhiều hơn thế. Họ chính là những nguyên đơn tiềm năng của các vụ kiện đòi Chính phủ mình, Chính phủ Mỹ hoặc các công ty hóa chất Mỹ phải bồi thường.

Trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới, hiếm có cuộc chiến tranh nào gây tổn hại nhiều sinh mạng cho một quốc gia như cuộc chiến tranh hóa học mà Mỹ đã gây ra ở Việt Nam. Thiệt hại do hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-da-ki trong chiến tranh thế giới lần hai là 210.000 người, song thiệt hại về người do chất độc da cam/dioxin gây ra lớn hơn gấp nhiều lần con số ấy.

Theo báo cáo hàng năm của Bộ CCB Mỹ, số lượng CCB da cam Mỹ nhận được trợ cấp thương tật đã tăng lên 20% trong giai đoạn 2003-2008, đạt đến con số 1.015.410 người. Số lượng nạn nhân da cam Mỹ lớn hơn con số này. Còn nhiều CCB Mỹ vẫn chưa được công nhận là nạn nhân da cam. 
Xem chi tiết…

Dùng nấm làm sạch đất ô nhiễm amiang

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Torino, Italia, đã tìm ra một số loại nấm giúp làm sạch đất bị ô nhiễm amiăng. Thậm chí nó còn có thể chuyển gene tấn công amiăng cho các vi sinh vật khác trong đất.


Các sợi amiăng phát tán trong không khí gây bệnh phổi và ung thư khí quản. Làm sạch đất ô nhiễm quanh các mỏ và nhà máy amiăng đã ngừng hoạt động còn khó hơn nhiều việc dỡ các tấm amiăng ra khỏi các toà nhà. Hiện tại, chưa có cách nào thực sự tốt để làm sạch những địa điểm này.

Các vi sinh vật đã được sử dụng để làm sạch dầu tràn và đang được nghiên cứu để làm sạch đất cũng như nước chứa kim loại nặng, độc hại, chẳng hạn như chì. Dường như amiăng là mục tiêu tiếp theo của chúng. Sợi amiăng độc hại một phần bởi chúng chứa sắt. Sắt có thể dẫn tới việc hình thành những hoá chất phản ứng mạnh được gọi là các gốc tự do. Gốc tự do làm tổn thương ADN và gây ung thư. Nếu loại bỏ sắt, amiăng trở nên ít độc hại hơn rất nhiều.

Thật may là hầu hết các vi sinh vật trong đất cần sắt để tạo năng lượng. Vì thế cho nên một số vi sinh vật có những cách rất hiệu quả tìm sắt từ môi trường sống của chúng. Lũ sinh vật đó bắt giữ các nguyên tử sắt từ khoáng chất trong đất và cô đặc bằng cách sử dụng các móc hoá học có tên là siderophores.

Perotto và đồng nghiệp chỉ ra rằng một số loại nấm hấp thụ sắt từ crocidolite - một trong những dạng amiăng gây ung thư mạnh nhất. Sợi amiăng mất sắt không thể tạo ra các gốc tự do gây ung thư. Những loại nấm hấp thụ sắt tốt nhất là Fusarium oxysporum - thủ phạm gây thối rữa thực vật - Mortierella hyalina và Oidiodendron maius. Oidiodendron maius tấn công cây thân gỗ, cây bụi và có thể sống trong môi trường ô nhiễm kim loại nặng.

Nhóm rất ngạc nhiên khi thấy lượng sắt mà những loại nấm này hấp thụ từ amiăng. Một số loại vẫn hấp thụ sắt sau hơn 7 tuần. Ngoài ra chúng buộc các sợi amiăng thành một loại mạng gồm những dải nhỏ, làm cho sợi có ít khả năng thoát vào trong không khí nếu đất ô nhiễm amiăng bị xới lên. Để sử dụng những vi sinh vật này làm sạch đất ô nhiễm, cần phải "gieo" một số bào tử nấm vào đất và bổ sung chất dinh dưỡng mà chúng cần cho sinh trường.
Xem chi tiết…

10 nguyên tắc ăn uống giúp tránh xa ung thư

Khoảng hơn 90% trường hợp ung thư là do môi trường bên ngoài. Trong đó, khoảng 40% liên quan đến thói quen ăn uống, gia vị thức ăn và phương pháp nấu ăn; 30% có liên quan đến thói quen sinh hoạt, đặc biệt là hút thuốc,uống rượu…

Thói quen dinh dưỡng, lối sống lành mạnh sẽ quyết định khả năng “chiến đấu” với sự xâm nhập của ung thư vào cơ thể:

10 nguyên tắc ăn uống giúp tránh xa ung thư

1. Đa dạng hóa thực phẩm

Khi nấu ăn phải chú ý thực phẩm đa dạng, lấy thực phẩm thực vật làm chủ, thực phẩm thực vật nên chiếm hơn 2/3 mỗi bữa ăn. Thực phẩm thực vật là thực phẩm hàm chứa rau xanh, hoa quả, các loại đậu và ngũ cốc.

2.  Khống chế trọng lượng cơ thể

Nên tránh trọng lượng cơ thể quá nặng hoặc quá nhẹ, những người trưởng thành cần khống chế mức thể trọng không quá 5kg so với chuẩn; quá nặng hoặc quá béo dễ dẫn đến ung thư nội mạc tử cung, ung thư thận, ung thư  đường ruột.

3. Không ăn thực phẩm rán cháy và nướng cháy

Lúc nướng cá, nướng thịt nên tránh không làm cháy, những thực phẩm dùng mỡ rán cũng nên ít dùng, tốt nhất là ăn những thực phẩm luộc, hấp và xào.

4. Ăn nhiều thực phẩm tinh bột

Mỗi ngày ăn khoảng 600-800g các loại ngũ cốc, các loại đậu, thực vật… càng ít gia giảm càng tốt. Tinh bột trong thực phẩm có tác dụng phòng chống ung thư trực tràng và ung thư kết dính đường ruột. Thức ăn có Cen-lu-lo cao có khả năng phòng chống phát sinh ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tuyến sữa, ung thư đường ruột và ung thư trực tràng.

5. Ăn nhiều rau xanh hoa quả

Kiên trì mỗi ngày ăn khoảng 400-800g rau xanh, hoa quả, có thể làm cho mức nguy hiểm của bệnh ung thư giảm xuống 20%. Mỗi ngày nên ăn 5  loại hoặc trên 5 loại rau xanh và hoa quả.

6. Không nên uống quá nhiều rượu

Nếu uống rượu thì mỗi ngày không nên quá 1 ly ( tương đương với 250ml bia, 100ml rượu vang và 25ml rượu trắng). Thường xuyên uống rượu dễ tăng thêm nguy hiểm nhiễm bệnh ung thư thực quản, ung thư cổ họng và  ung thư khoang miệng.

7.  Giảm ăn thịt đỏ

Mỗi ngày nên khống chế dung nạp thịt đỏ dưới 90g, tốt nhất là ăn cá và thịt gia cầm thay thế. Ăn nhiều thịt đỏ sẽ làm tăng tỉ lệ nguy hiểm gây bệnh ung thư trực tràng và ung thư kết dính tràng, đồng thời cần khống chế dung nạp thức ăn có hàm lượng chất béo cao, đặc biệt là mỡ động vật, nên chọn  dầu thực vật (ví dụ như dầu Oliu).

8. Hạn chế muối và gia vị

Hạn chế sử dụng muối và gia vị đồng thời ít ăn những thực phẩm nhiều muối vì chúng có thể tăng thêm tỉ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày. Tổ chức Y tế thế giới đề xuất mỗi ngày lượng muối nạp vào cơ thể nên ít hơn 6g/người.

9. Không nên ăn thực phẩm lưu giữ quá lâu

Không nên ăn những thực phẩm lưu giữ quá lâu ở nhiệt độ thường,  bởi vì những thực phẩm này có thể đã bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh.

10.  Kiên trì tập luyện một môn thể thao thích hợp

Mỗi ngày nên kiên trì tập luyện từ 40-60 phút, bạn có thể chọn chạy bộ hoặc một môn thể thao thích hợp, chỉ cần bạn kiên trì tập luyện thì sẽ nâng cao sức đề kháng và phòng chống được các bệnh ung thư.
Xem chi tiết…

Phòng ngừa ung thư bằng việc vệ sinh răng miệng

Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất của TT Nghiên cứu ung thư Aichi (Nhật Bản), những người vệ sinh răng miệng sạch sẽ (đánh răng từ 2 lần/ ngày) có tỷ lệ mắc các bệnh ung thư khoang miệng hay ung thư thực quản thấp hơn 30%.

Theo tờ Kyodo News của Nhật, nghiên cứu này được tiến hành trên 3.800 người. Kết quả cho thấy thói quen đánh răng để vệ sinh răng miệng có mối quan hệ mật thiết tới bệnh ung thư. Kết quả này đã được Hiệp hội Ung thư Yokohama, Nhật Bản kiểm chứng.


Theo ông Keitaro, phụ trách toàn bộ quá trình nghiên cứu, trong khoang miệng và cổ họng có thể sản sinh ra vi khuẩn gây ung thư acetaldehyde. Đánh răng nhiều lần có thể hạn chế tốc độ phát sinh của loại vi khuẩn này và những chất gây ung thư. Do đó, ít nhất phải đánh răng 2 lần/ ngày (buổi sáng ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ) để có thể ngăn ngừa bệnh ung thư.

Cũng theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu ung thư Roswell Park, Mỹ, vệ sinh răng miệng kém dễ dẫn tới bệnh viêm lợi. Bệnh này nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn tới mắc bệnh nha chu với đặc trưng tổn thương xương và các mô mềm xung quanh răng. Ngoài gây ung thư, bệnh nha chu ảnh hưởng và gây ra những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác như tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ, tăng đường huyết…

Được biết, nghiên cứu đối với những người hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều cũng có kết quả tương tự như trên. Điều đó chứng tỏ rằng, thói quen vệ sinh răng miệng không tốt cũng có sự ảnh hưởng tương tự những tác nhân gây hại khác( rượu bia, thuốc lá…).
Xem chi tiết…

Chữa hẹp khí quản bằng kỹ thuật mới

10 bệnh nhân bị tắc đường thở do khối u khí quản chèn ép đã được các bác sĩ Khoa Phẫu thuật lồng ngực -Tim mạch (BV T.Ư Quân đội 108) cứu sống nhờ phương pháp cắt nối và tạo hình khí quản.

Tại Bệnh viện Việt Đức, phương pháp đặt stent mở rộng khí quản cũng mang lại hiệu quả cao trong điều trị.

Cắt nối và tạo hình khí quản

Bệnh nhân Trần Đăng Sơn (25 tuổi), bị tai nạn giao thông dẫn tới hôn mê phải mở khí quản để giúp hệ thống hô hấp hoạt động. Tuy nhiên, do mở lâu ngày nên khí quản bị biến chứng hẹp dần khiến bệnh nhân đối mặt với nguy cơ tử vong.

Đối với trường hợp bệnh nhân Sơn, TS. Hoàng Quốc Toàn - Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật lồng ngực-Tim mạch, BV TƯ Quân đội 108 cho biết, các bác sĩ đã cắt bỏ đoạn hẹp, nối lại, giúp bệnh nhân tự thở, nói bình thường bằng kỹ thuật cắt nối và tạo hình khí quản. Hẹp khí quản gây tắc đường thở là một tổn thương cần cấp cứu kịp thời vì dễ gây tử vong nhanh chóng cho bệnh nhân. Ngoài ra, những bệnh nhân bị chít hẹp khí quản sau xạ trị ung thư vùng cổ, u khí quản, hẹp khí quản bẩm sinh, u nguyên phát tại khí quản, u trong trung thất, vùng cổ tuyến giáp xâm lấn... là những đối tượng có nguy cơ cao bị tắc thở do khí quản bị tổn thương nặng nề. Tính đến nay, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật lồng ngực - Tim mạch đã phẫu thuật thành công cho 15 trường hợp bị chèn ép khí quản gây tắc thở, không có bệnh nhân nào bị biến chứng.

Theo TS.Toàn, trên thế giới hiện đã công bố điều trị thành công cho 22 trường hợp hẹp khí quản do xạ trị ung thư khí quản. Riêng tại Việt Nam, các bác sĩ BV TƯ Quân đội 108 đã điều trị hiệu quả cho hai bệnh nhân bị ung thư khí quản. Đối với những bệnh nhân bị ung thư khí quản đã từng nhiều lần điều trị tia xạ sẽ gây khó khăn cho bác sĩ vì các tổ chức xung quanh cũng như khí quản bị xơ cứng, thiểu dưỡng, nguy cơ hoại tử sau mổ gây bục miệng nối là rất cao. Để giải quyết những khó khăn này, các bác sĩ đã sử dụng vạt mạc nối lớn dưới bụng luồn sau xương ức kéo lên cổ rồi phủ lên trên khí quản để bảo vệ và tăng cường dinh dưỡng cho miệng nối.

Riêng với những bệnh nhân hẹp khí quản do u khí quản nguyên phát hoặc u ở các cơ quan lân cận xâm lấn vào khí quản, bác sĩ sẽ cắt toàn bộ khối u, loại bỏ phần chít hẹp để giải phóng đường thở, sau đó tạo hình khí quản. Cắt nối và tạo hình khí quản được các chuyên gia đánh giá là một trong những kỹ thuật khó thực hiện nhất của phẫu thuật lồng ngực. Bởi lẽ có đoạn khí quản nằm trong lồng ngực, tiếp giáp với những mạch máu lớn, thực quản, hệ thống thần kinh, nếu thực hiện không chuẩn xác dễ dẫn tới biến chứng như bệnh nhân bị mất tiếng hoặc gây chảy máu thực quản.

Với phương pháp mới này, bệnh nhân có thể được bỏ nội khí quản ngay khi còn nằm trên bàn mổ. Đặc biệt, sau mổ, bệnh nhân có thể nói được ngay. Sau 7 đến 10 ngày, bệnh nhân sẽ được xuất viện. TS. Hoàng Quốc Toàn cho biết thêm, kỹ thuật mới này được điều trị cho những bệnh nhân xuất hiện triệu chứng khó thở lâm sàng tăng dần, nhiễm trùng tái phát nhiều lần hoặc bệnh nhân bị chít hẹp hơn 50% khí quản. Một ưu điểm nữa của kỹ thuật cắt nối và tạo hình khí quản là ngoài việc điều trị triệt để đoạn khí quản bị chít hẹp, cắt bỏ tận gốc khối u thì tỷ lệ tái phát bệnh chỉ còn 5%. Trước đây, khi chưa áp dụng phương pháp này, bác sĩ thường sử dụng kỹ thuật nong, đốt laze, sóng cao tần rất dễ làm bệnh tái phát.


Đặt stent mở rộng khí quản

BS Nguyễn Đức Chính, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật nhiễm khuẩn, BV Việt Đức cho biết, việc áp dụng kỹ thuật đặt stent trong điều trị hẹp khí quản đã có những kết quả khả quan, tuy nhiên kỹ thuật này chưa được áp dụng phổ biến. Khoa Phẫu thuật nhiễm khuẩn, phối hợp với Khoa Phẫu thuật tim mạch và lồng ngực BV Việt Đức vừa phẫu thuật kết hợp đặt stent thành công cho bệnh nhân Hài, ở huyện Phúc Thọ (Hà Nội) bị hẹp khí quản sau mở khí quản.

Trước đó, bệnh nhân Hài bị viêm phổi và điều trị tại BV 103, sau đó suy thở nên phải mở khí quản. Gần 10 ngày khó thở tăng dần, đã khám BV Tai Mũi Họng TƯ, sau chuyển BV Việt Đức xét mổ tạo hình khí quản. Các bác sĩ BV Việt Đức đã thực hiện đặt stent để mở rộng khí quản cho bệnh nhân này. Stent (giá đỡ) được sử dụng từ nhiều năm trước nhằm làm phế quản hẹp trở nên rộng hơn, giúp thông khí và giải phóng đờm nhớt, hạn chế biến chứng xẹp phổi và nhiễm trùng.

Trước đây, một số bệnh viện ở Việt Nam cũng tiến hành đặt stent làm rộng khí quản nhưng là loại bằng nhựa có tráng silicone đơn giản. Còn lần này, các bác sĩ BV Việt Đức đã đặt dụng cụ giúp khí quản phồng lên được trong khi trước đó nó hẹp khít, không thể nong. Đây là loại stent lót kim loại, giá thành rất đắt.

Cũng theo BS Chính, mặc dù có những biến chứng, stent điều trị hẹp khí quản là một trong các phương pháp có nhiều ưu điểm là ít xâm lấn, khả năng phục hồi sau mổ sớm hơn, đặc biệt có thể áp dụng khi có tổn thương hẹp đoạn dài mà không dùng các biện pháp khác được.
Xem chi tiết…

Các biện pháp phòng chống ung thư hiệu quả

Ngày nay Ung thư đã trở thành gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội. Nó có thể xảy ra ở bất kì đối tượng nào, bất kì lứa tuổi nào.

Do vậy, phòng chống ung thư là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi gia đình và toàn xã hội
Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển

Năm 2005, có đến 7,6 triệu người chết vì ung thư trong số 58 triệu người chết trên toàn thế giới. Có khoảng trên 70% bệnh nhân chết do ung thư thuộc các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Lý do là ở các nước này các nguồn lực dành cho phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư còn rất hạn chế hoặc thậm chí, tại một số nơi, hầu như không có gì.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dự đoán con số người chết hằng năm do các bệnh ung thư sẽ tiếp tục tăng lên đến 9 triệu vào năm 2015 và 11,4 triệu vào năm 2030. Tuy nhiên, có rất nhiều cái chết như vậy có thể tránh được. Trên 40% tất cả các trường hợp ung thư có thể phòng ngừa thành công. Một số ung thư khác nếu được phát hiện sớm, có thể điều trị lành.

Các bệnh ung thư thường do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên. Không có một phương pháp riêng rẽ nào có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư. Tuy nhiên, chúng ta có thể giảm thiểu được những yếu tố nguy cơ làm phát sinh căn bệnh nguy hiểm này.

596110 Những biện pháp phòng chống ung thư hiệu quả

Giảm ăn thịt:
Mỗi ngày không nên ăn quá 30 đến 90 g thịt. Chú ý giảm các loại thịt màu đỏ như thịt bò, thịt heo, thịt cừu, thịt dê. Cá là loại thực phẩm được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng. Cũng nên chú ý đến chất lượng thịt. Thịt càng ôi thiu thì khả năng gây bệnh càng lớn. Cách chế biến cũng rất quan trọng. Không nên sử dụng quá nhiều thịt nướng, thịt chiên rán quá nóng, quá chín.

Không hút thuốc lá:
Thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi . Chỉ riêng ở Đức, mỗi năm có đến 40.000 người chết vì căn bệnh này. Nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc ung thư phổi, chúng ta cần phải tạo dựng nên một môi trường không có khói thuốc lá. Những người đang hút thuốc lá nếu từ bỏ thói quen tai hại này ngay ngày hôm nay thì giảm được 80% nguy cơ ung thư phổi do thuốc lá trong 5 năm tới.

Uống rượu ít lại:
Những người uống nhiều rượu có nguy cơ mắc ung thư khoang miệng, ung thư hầu, ung thư thanh quản và ung thư thực quản. Các chuyên gia khuyên rằng mỗi ngày không nên uống quá 0,3 lít rượu vang (với phụ nữ là 0,2 lít) hoặc không quá 0,75 lít bia (với phụ nữ là 0,5 lít). Trong mỗi tuần, nên có hai ngày hoàn toàn không uống thức uống chứa cồn.

Ăn nhiều rau xanh và trái cây:
Rau xanh và trái cây có tác dụng làm giảm nguy cơ gây ung thư các loại. Không nên chỉ ăn một loại rau hoặc trái cây nhất định nào đó. Nếu bữa ăn càng nhiều màu sắc khác nhau thì tác dụng phòng ngừa ung thư càng cao. Người nào hằng ngày đều có sử dụng các loại rau quả có màu xanh, đỏ, vàng thì người đó càng có cơ may giảm thiểu được nguy cơ ung thư. Nước ép trái cây tươi cũng có tác dụng tốt.

Giữ không để tăng cân:
Thừa cân, béo phì là một yếu tố nguy cơ của ung thư. Những người thường xuyên vận động, luyện tập thể thao thì càng làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Viện Nghiên cứu ung thư quốc gia Mỹ khuyến cáo mỗi ngày nên luyện tập thể thao ít nhất 30 phút.

Tránh ánh nắng gay gắt:
Ung thư da ngày càng trở nên thường gặp hơn, do vậy cần phải tránh để ánh nắng gay gắt chiếu trực tiếp trong một thời gian dài, nhất là vào buổi trưa. Không nên tắm nắng buổi trưa và khi tắm nắng cần phải có kem chống nắng bảo đảm chất lượng.

596111 Những biện pháp phòng chống ung thư hiệu quả

Phòng chống các bệnh nhiễm trùng:
Theo thống kê năm 2005 của WHO, ung thư gan là nguyên nhân gây tử vong thường gặp ở người Việt Nam: đứng hàng thứ ba ở nam giới và đứng hàng thứ sáu ở nữ giới. Viêm gan B mạn tính có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Việt Nam là nước có mức độ lưu hành dịch cao. Do vậy chủng ngừa viêm gan B cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ gây ung thư gan.

Một số chủng virus gây u nhú ở người (HPV) có thể gây nên ung thư cổ tử cung. Hiện nay các công ty dược phẩm đang đưa vào thị trường các loại vắc-xin ngừa ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên, các loại vắc-xin này cũng chỉ có thể phòng ngừa được một số chủng virus gây u nhú ở người có khả năng gây ung thư cổ tử cung, chứ không thể ngăn ngừa tất cả các ung thư cổ tử cung. Điều quan trọng là không nên sinh hoạt tình dục quá sớm, sinh hoạt tình dục với nhiều bạn tình khác nhau và có hành vi tình dục không an toàn.

Một điều đặc biệt đáng chú ý: ung thư dạ dày là loại ung thư gây tử vong nhiều nhất ở phụ nữ Việt Nam (theo số liệu thống kê năm 2005). Khoa học đã chứng minh mối liên quan nhân quả giữa nhiễm xoắn khuẩn helicobacter pylori và nguy cơ ung thư dạ dày. Để phòng ngừa nhiễm vi khuẩn này cần bảo đảm chế độ dinh dưỡng và môi trường sống hợp vệ sinh. Những bệnh nhân có triệu chứng bệnh dạ dày do helicobacter pylori, cần điều trị triệt để theo hướng dẫn chuyên khoa.
Xem chi tiết…

Cơ hội sống cho người bị ung thư khí quản

Lần đầu tại Việt Nam, Bệnh viện 108 phẫu thuật thành công khối u khí quản, mở ra triển vọng mới trong điều trị ung thư khi quản và biến chứng hẹp khí quản sau thở máy.
Tiến sĩ Hoàng Quốc Toàn, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật lồng ngực - tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 cho biết, thế giới mới công bố 22 ca hẹp khí quản do chạy tia chữa ung thư được cắt nối thành công. Tại Việt Nam, đây là lần đầu các bác sĩ cắt bỏ toàn bộ khối u xâm lấn khí quản, lấy mạc nối lớn dưới bụng đặt sau xương ức thành vạt ôm phủ khí quản sau cắt nối, cứu sống bệnh nhân.



Cắt triệt để khối ung thư

Chị Nguyễn Thị M. (Hoàn Kiếm, Hà Nội) bị ung thư tuyến giáp đã được xạ trị tại Singapore. Sau đó, u ác tính di căn lại xuất hiện trong lòng khí quản, chị phải tiếp tục sang Singapore điều trị, song bị trả về nước vì diễn biến bệnh nặng, không còn khả năng phẫu thuật. “Còn nước còn tát”, gia đình đưa chị tới Bệnh viện 108. Tại đây, sau khi được phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u gây tắc đường thở, nối khí quản…, chị đã hết khó thở và nói được bình thường.
Một trường hợp khác là anh Trần Đăng S., 25 tuổi, bị tai nạn hôn mê được mở khí quản để giúp hô hấp, nhưng sau đó phần khí quản này bị biến chứng hẹp dần khiến bệnh nhân có nguy cơ tử vong. Các bác sĩ đã cắt bỏ đoạn hẹp, sau đó nối lại, giúp bệnh nhân tự thở bình thường.
Theo tiến sĩ Toàn, hẹp khí quản gây tắc đường thở rất thường gặp và nhanh chóng gây tử vong cho bệnh nhân nếu không được cấp cứu kịp thời. Tổn thương hẹp khí quản xảy ra do rất nhiều nguyên nhân: sau mở khí quản, hẹp bẩm sinh, u nguyên phát tại khí quản, có u trong trung thất, vùng cổ tuyến giáp xâm lấn, lao, chít hẹp sau xạ trị ung thư vùng cổ, sau tai nạn đa chấn thương phải đặt ống nội khí quản dài ngày…

Nói được ngay sau phẫu thuật

Thạc sĩ Ngô Vi Hải, khoa Phẫu thuật lồng ngực, cho biết, trước đây khi chưa có kỹ thuật cắt nối - tạo hình khí quản, bệnh nhân bị hẹp khí quản thường được điều trị sẹo hẹp bằng nong, đốt laze, sóng cao tần… Phương pháp này chỉ giải quyết được phần niêm mạc, trong khi tổn thương chiếm toàn bộ chiều dày thành khí quản nên dễ tái phát. Hơn nữa, với tổn thương hẹp do khối u thì cách trên không giải quyết được khối u và có nhiều rủi ro trong quá trình can thiệp.
Phương pháp phẫu thuật cắt nối và tạo hình không những loại bỏ triệt để phần chít hẹp, loại bỏ u, mà còn có tỷ lệ tái phát thấp dưới 5% (sau vài năm, tổn thương này có thể điều trị thành công bằng các kỹ thuật đốt laser hoặc sóng cao tần).
Theo thạc sĩ Hải, phẫu thuật được chỉ định đối với những trường hợp bị chít hẹp trên 50% đường kính khí quản, bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng khó thở tăng dần và nhiễm trùng hô hấp. Các trường hợp bị hẹp do đặt nội khí quản, hoặc mở khí quản… sẽ được phẫu thuật cắt bỏ đoạn chít hẹp rồi khâu nối. Nhưng đối trường hợp chít hẹp sau xạ trị, bị u bên trong, các bác sĩ sẽ phải phẫu thuật cắt toàn bộ khối u, loại bỏ phần chít hẹp giải phóng đường thở và tạo hình.
Ngay sau ca mổ, bệnh nhân có thể rút nội khí quản, có thể nói được bình thường và ra viện sau 7 - 10 ngày.
Xem chi tiết…