Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ MRI trong chẩn đoán ung thư khí quản



Kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hay còn gọi là mri là kỹ thuật hình ảnh sử dụng từ trường và sóng tần số radio để ghi hình một cách chi tiết các cấu trúc bên trong của cơ thể và cho hình ảnh chất lượng cao với độ phân giải và tương phản tốt để cho các bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh lý một cách chính xác

MRI có thể được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân để quan sát lượng nước bên trong các cấu trúc bên tỏng của cơ thể. Ảnh cộng hưởng từ hạt nhân dựa trên một hiện tượng vật lý đó là hiện tượng cộng hưởng từ hạt nhân. Đây là một kỹ thuật chẩn đoán y khoa tạo ra hình ảnh giải phẩu của cơ thể nhờ sử dụng từ trường và sóng radio MRI đã được ứng dụng vào Việt Nam từ năm 1996 , các thế hệ máy lúc đó hoạt động rất chậm nhiều khi phải mất cả tiếng đồng hồ nhưng cho đến nay, sau nhiều cải tiến thì phương pháp MRI này đã có tốc độ cải thiện hơn rất nhiều (chụp toàn thân trong 15-30 phút).
MRI có thể sử dụng để kiểm tra gần như mọi cơ quan trong cơ thể. Kỹ thuật này đặc biệt có giá trị trong việc chụp ảnh chi tiết não hoặc dây cột sống u khí quản.....

MRI có thể đem lại những hình ảnh 3 chiều, bác sĩ có thể nắm được thông tin về địa điểm, những thương tổn, những thông tin như vậy rất có giá trước khi phẫu thuật chẳng hạn như tiểu phẫu não.

Chuẩn bị

Bệnh nhân (BN)có thể ăn uống như bình thường.

Mang theo các phim ảnh đã chụp trước kia (như Xquang, siêu âm, MRI, CT) kèm theo kết quả, giúp bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đánh giá tình trạng của bạn.

Do trong quá trình chụp sẽ sử dụng từ trường mạnh nên tất cả các vật dụng bằng kim loại bệnh nhân đang mang (như răng giả, vòng tránh thai...) cần phải lấy ra trước khi vào phòng chụp MRI.

BN nữ được yêu cầu không trang điểm vùng mắt khi chụp MRI cho não vì có thể ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh.

Những trường hợp chống chỉ định

Chống chỉ định ở BN đang sử dụng máy điều hòa nhịp tim.

BN đang sử dụng cấy ốc tai không thể chụp MRI.

Những BN đang sử dụng các clip chữa phình mạch não, stent trong động mạch chủ, bơm truyền dịch và các thiết bị kích thích thần kinh... cũng không được thực hiện chụp MRI.

Chụp MRI thường không được chỉ định cho các trường hợp có thai dưới 3 tháng, trừ khi được chỉ định bởi bác sĩ giới thiệu hoặc bác sĩ chẩn đoán hình ảnh rằng chụp MRI là một thủ thuật y khoa cần thiết và lợi ích từ khảo sát này lớn hơn rủi ro. Điều này cũng có nghĩa là không có phương pháp kiểm tra nào khác có thể cho những thông tin tương tự như chụp MRI đối với trường hợp này.

Quy trình chụp MRI

• BN sẽ được cung cấp và đề nghị thay quần áo thoải mái, nằm lên bàn máy và được đưa vào khung máy. Phần cơ thể cần kiểm tra được chỉnh nằm chính giữa khoang máy. Một thiết bị, giống một cuộn dây, giúp nâng cao chất lượng hình ảnh, có thể sẽ được đặt lên trên vùng cần kiểm tra.

• Bạn sẽ biết quá trình chụp đang được thực hiện khi nghe tiếng rung. Điều quan trọng nhất là bạn cần phải nằm im tuyệt đối. Cử động sẽ làm hình ảnh cần chụp bị mờ. Thông thường, có bốn hoặc năm hình thức chụp MRI và mỗi loại mất khoảng 2-8 phút để hoàn thành. Toàn bộ quy trình thực hiện khoảng 20 phút.

Chất tương phản (Gadolinium)

Một số BN chụp MRI có thể cần phải được tiêm chất tương phản (Gadolinium ) vào tĩnh mạch, giúp nhìn thấy các thương tổn rõ hơn trên hình ảnh MRI, nâng cao độ chính xác của khảo sát và phát hiện nhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư. Chất tương phản này không phải là chất phóng xạ.

Hầu hết các trường hợp tiêm chất tương phản đều không có biến chứng. Tương tự như các thủ thuật y khoa khác, có những rủi ro gắn với việc đưa bất kì chất gì vào cơ thể, bao gồm cả chất tương phản. Khi chất tương phản được tiêm vào cơ thể, bạn sẽ cảm thấy mát lạnh và cảm giác thuốc đang lan tỏa trong vòng một hai phút và điều đó hoàn toàn bình thường. Một số BN có thể cảm thấy vị the lạnh trong miệng hoặc số ít BN có tác dụng phụ như buồn nôn và đau cục bộ. Rất hiếm BN bị dị ứng với chất tương phản và có thể bị phát ban, ngứa mắt hoặc một vài phản ứng khác. Nếu có triệu chứng dị ứng, hãy thông báo ngay với kỹ thuật viên. Những phản ứng rất nhỏ này chỉ xảy ra đối với 0.05% các trường hợp.

Hiện nay, đã có ghi nhận về tình trạng xơ hóa hệ thống có nguồn gốc từ thận như là một biến chứng của chụp MRI. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm, nhiều khả năng xảy ra khi tiêm gadolinium liều cao cho BN bị suy thận nặng.
Đáng nói, không có cách nào để biết được ai bị dị ứng với chất tương phản cho đến khi được tiêm vào cơ thể.
Xem chi tiết…

Để hạt quất rơi vào khí quản con sống thực vật

Khi thấy bé Nguyễn Trọng T (15 tháng tuổi ) lên cơn co giật, mẹ của bé vội vàng lấy quất vắt vào miệng, không may hạt quất rơi vào khí quản khiến bé bị ngộp thở và gần như phải sống thực vật với những di chứng não và tình trạng nhiễm trùng rất nặng

Chanh và quất không có tác dụng chống do giật
Cháu Nguyễn Trọng T (huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM trong tình trạng hôn mê, suy hô hấp nặng, da tím tái. Các bác sĩ bệnh viện Nhi đồng 1 đã gắp ra một hạt tắc rơi vào phế quản phải – nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy hô hấp và di chứng não khiến cháu phải sống đời sống thực vật.

Qua lời kể của người thân trong gia đình, các bác sĩ được biết khi bé bị co giật, mẹ của bé đã nặn trực tiếp quả quất vào miệng bé để chống co giật. Không may, hạt quất rơi vào khí quản khiến bé bị suy hô hấp, phải đưa vào một phòng khám đa khoa gần nhà để cấp cứu. Dù đã được đặt nội khí quản nhưng do tình trạng quá nặng nên phòng khám đã chuyển bé đến bệnh viện Nhi đồng 1 để điều trị. Các bác sĩ Nhi đồng 1 đã gắp được hạt tắc ra khỏi khí quản phải nhưng do não thiếu oxy quá lâu nên đã dẫn đến tình trạng cháu bé bị di chứng não, phải sống đời sống thực vật. Đồng thời, cháu T cũng đang rơi vào tình trạng nhiễm trùng phổi do dị vật gây nên.

Ths.Bs Trần Ngọc Hạnh Đan, khoa Nhiễm – Thần kinh, bệnh viện Nhi đồng 1 cho rằng, theo quan niệm dân gian, một số phụ huynh khi thấy con lên cơn co giật thường nặn chanh hoặc quất vào miệng trẻ. Thế nhưng việc nặn trái quất hay chanh vào miệng em bé không những không có tác dụng khi trẻ bị co giật mà ngược lại còn vô cùng nguy hiểm. Vì trong cơn co giật, trẻ không có phản xạ ho sặc sụa để đẩy dị vật ra khỏi đường thở. Trong cơn co giật thì phản xạ này sẽ giảm hoặc mất đi nên dị vật rơi vào đường thở rất dễ dàng.

Theo bác sĩ Hạnh Đan, khi trẻ lên cơn co giật tại nhà. Đầu tiên, các phụ huynh nên cho trẻ nằm trên mặt bằng theo tư thế nghiêng 1 bên, quay mặt trẻ ra ngoài để có thể quan sát được biểu hiện của trẻ. Ở tư thế này, đàm nhớt trong miệng trẻ dễ dàng chảy ra ngoài, có thể lấy khăn lau sạch cho trẻ, tránh trào ngược vào đường thở. Tiếp theo, cha mẹ có thể lấy một cây đè lưỡi bằng gỗ hoặc nhựa để đặt vào giữa hai hàm răng của trẻ. Sau đó, trẻ nên được đưa đến cơ sở y tế khám chữa bệnh gần nhất để sơ cấp cứu. Tuyệt đối không vắt chanh, quất vào miệng trẻ vì những chất này hoàn toàn không có tác dụng chống co giật.

Theo Lao động
Xem chi tiết…

Ung Thư Hạch Bạch Huyết (Lymphoma)

Những bệnh ung thư bắt đầu từ hệ thống hạch bạch huyết được gọi là các u lympho. Có hai loại chính là: u lympho Hodgkin và u lympho không Hodgkin. Mặc dù đó là hai loại u lympho, vẫn có sự khác nhau giữa chúng, vì thế việc điều trị cũng khác nhau


I- U LYMPHO HODGKIN (HODGKIN LYMPHOMA)

Bệnh u lympho Hodgkin được bác sĩ Thomas Hodgkin mô tả lần đầu tiên năm 1832
Bệnh Hodgkin là một trong các loại lymphoma (ung thư hạch bạch huyết), là ung thư có nguồn gốc từ hệ bạch huyết.
Ung thư hạch bạch huyết gồm hai loại chính: Hodgkin và Không-Hodgkin.
Hệ thống bạch huyết là một phần trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Hệ thống miễn dịch này có nhiệm vụ chống lại các bệnh lý nhiễm trùng cùng các loại bệnh lý khác.
Hệ bạch huyết có 2 thành phần chính:
- Mạng lưới các mạch bạch huyết.
- Các hạch bạch huyết: có kích thước từ vài mm đến hơn 1 cm, thường xếp thành nhóm. Hạch bạch huyết là nơi khống chế và loại trừ những vi sinh vật cùng các chất nguy hại cho cơ thể.

Hệ bạch huyết còn là mạng lưới gồm nhiều mạch bạch huyết, phân nhánh tương tự mạch máu, đi vào các mô ở khắp cơ thể.


H1-Hệ bạch huyết

Mạch bạch huyết dẫn bạch huyết, một chất lỏng không màu sắc, chứa những tế bào lympho, hiện diện khắp cơ thể. Trong mạng lưới này, có những bộ phận nhỏ gọi là hạch bạch huyết. Các hạch bạch huyết là các hạt nhỏ nằm khắp cơ thể. Mỗi hạch có kích thước từ đầu đinh ghim đến bằng hạt đậu, thường xếp thành nhóm hay chuỗi hạch. Từng nhóm hạch bạch huyết nằm trong nách, hai bên bẹn, cổ, ngực, và ổ bụng.


H2- Hạch bạch huyết vùng đầu cổ

Ngoài các hạch bạch huyết, lá lách, tuyến hung (thymus), amidan và tủy xương là những thành phần khác của hệ bạch huyết. Dạ dày, hỗng tràng và da cũng có những tế bào và mô bạch huyết.


H3- Lymphom Hodgkin trong lách

Tế bào lymphô nằm trong hạch bạch huyết, nếu sự phát triển bị rối loạn và trở thành ung thư, thì gọi là ung thư nguyên phát tại hạch. Phân biệt với hạch do ung thư di căn.
Các tế bào lymphô ác tính không chỉ hiện diện ở các hạch bạch huyết mà còn ở những nơi khác.


H4- Tế bào Reed-Sternberg

Hạch thường xuất hiện đầu tiên ở hố thượng đòn bên trái (gấp 6 lần nhiều hơn bên phải), kích thước có thể nhỏ như hạt táo nhưng cũng có thể to bằng quả cam. Lúc đầu các hạch mọc riêng rẽ nên dễ nắn, giới hạn rõ rệt. Về sau các hạch có thể dính vào thành từng đám. Hạch ít khi bị loét gây nên lỗ rò ngoài da. Hạch thường không đau và khá chắc.
Bệnh thường gặp ở người lớn, tiến triển thành từng đợt. Mỗi đợt người bệnh thường bị sốt, ngứa và có số lượng hạch tăng nhiều hơn. Xét nghiệm máu có thể thấy tăng bạch cầu ái toan.


H5- Lymphoma Hodgkin vùng cổ

Cần chú ý tìm hạch ở nội tạng như trung thất , mạc treo. Trường hợp bệnh khởi đầu bằng các hạch to ở trung thất thì rất khó chẩn đoán, vì có khi cần phải chờ đến những đợt tiến triển kế tiếp để hạch xuất hiện ở ngoại vi.
Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết hạch, thấy có hình thái đa dạng tế bào và nhất là tìm thấy tế bào Sternberg.


H6- Tế bào Reed-Sternberg

U lymphô (lymphôm) gồm 2 dạng chính là lymphôm Hodgkin và lymphôm không Hodgkin. Ung thư hạch loại không Hodgkin nhiều gấp 5 lần loại Hodgkin.

Khi bị ung thư Hodgkin, các tế bào trong hệ bạch huyết trở nên bất thường, chúng sinh sôi nảy nở rất nhanh và sinh sản vô trật tự. Hệ bạch huyết hiện diện ở nhiều cơ quan, bộ phận của cơ thể, do đó khi ung thư bạch huyết xuất hiện, nó có thể xuất hiện tại bất cứ vị trí nào của cơ thể.
Bệnh Hodgkin có thể khởi phát từ một hay nhiều hạch bạch huyết, hoặc từ một bộ phận chứa hạch bạch huyết như lá lách hoặc tủy xương. Loại ung thư này thường phát triển từ nhóm hạch bạch huyết này sang nhóm hạch kế cận. Ví dụ, bệnh Hodgkin khởi phát từ hạch bạch huyết ở cổ sẽ lan đến những hạch bạch huyết ở vùng lân cận như vùng xương đòn, sau đó lan đến những hạch bạch huyết dưới nách và lồng ngực. Cuối cùng, bệnh sẽ lan rộng đến khắp cơ thể.

A. Các yếu tố gia tăng nguy cơ bị bệnh Hodgkin:

Tuy nguyên nhân gây bệnh Hodgkin chưa biết rõ, cũng đã xác định được một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh:
• Tuổi và giới tính: Bệnh Hodgkin thường gặp ở những người tuổi từ 15-34 và trên 55 tuổi, nam nhiều gấp đôi nữ
• Người có thân nhân bị Hodgkin có nguy cơ bị ung thư Hodgkin cao hơn những người khác
Nhiễm trùng: Virus Epstein-Barr (EBV) có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh Hodgkin.
Người bị suy yếu hệ miễn dịch do bất kỳ nguyên nhân nào (HIV/AIDS, do sử dụng thuốc, sau đợt điều trị ung thư, do mẹ truyền sang con...)

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp bệnh Hodgkin mà không thấy các yếu tố nguy cơ trên.

B. Triệu chứng:

• Phì đại (nhưng không đau) các hạch bạch huyết ở cổ, nách, háng
• Sốt hồi quy không rõ nguyên nhân
• Ra mồ hôi ban đêm
• Sút cân
• Ngứa ngáy

Các triệu chứng này không nhất thiết phải do bệnh Hodgkin gây ra, nhưng nên đi khám để tìm nguyên nhân.
Đừng đợi đến khi hạch bạch huyết trở nên đau.
Bệnh Hodgkin lúc khởi đầu thường không gây đau.

C. Chẩn Đoán:

Ngoài việc hỏi bệnh sử, cần khám tổng quát để phát hiện tình trạng phì đại các hạch bạch huyết. Có thể dùng thêm một số xét nghiệm để chẩn đoán như:
• Xquang phổi, xương
• Siêu âm bụng
• CT scan nhiều bộ phận của cơ thể
• MRI nhiều bộ phận của cơ thể
• Gallium scan
• PET (Positron Emission Tomography) scan
• Chụp mạch bạch huyết (lymphangiogram): Tiêm một loại hóa chất cản quang vào tĩnh mạch, rồi chụp Xquang để có được hình ảnh của hạch và mạch bạch huyết
• Sinh thiết hạch bạch huyết để xét nghiệm, tìm dấu vết các tế bào Reed-Sternberg, là những tế bào bất thường, rất lớn thường gặp trong bệnh Hodgkin. Số lượng tế bào càng cao, ung thư càng nặng.
• Xét nghiệm tuỷ đồ



H7- Tế bào Reed-Sternberg

Giải phẫu bệnh lý: có giá trị chẩn đoán quyết định, phân loại thể bệnh và mức độ ác tính:

- Là tổ chức Sternberg (tổ chức hạt)
- Tổ chức này gồm: tế bào Sternberg, các lymphocytes, eosinophile, neutrophile, plasmocyte, tế bào sợi...
- Tế bào Sternberg là tế bào đặc trưng: kích thước 30-60µm, nguyên sinh chất nhiều bắt màu kiềm, có từ 1-3 nhân. Nhân có hạt nhân và khoảng sáng quanh nhân. Đây là các tế bào dòng lympho: chúng phát triển mạnh làm đảo lộn, phá vỡ cấu trúc hạch, các vỏ xơ bao quanh hạch bị phá huỷ.


H8- Tế bào Reed-Sternberg

- Tế bào Lympho biến đổi về hình thái, mang đặc điểm của tế bào ung thư: nhân lớn, nhân quái, nhân đang phân chia.
* Tóm lại:
+Hodgkin=tế bào Sternberg, tế bào viêm (N, E, P).
+Non Hodgkin: lymphoblast hình thù quái dị.


H9- Tế bào Reed-Sternberg

D. Xác định giai đoạn của ung thư:

Sau khi chẩn đoán bệnh Hodgkin, cần xác định giai đoạn của ung thư, xem ung thư đã di căn chưa, và nếu có, đã di căn đến đâu, trước khi quyết định điều trị.
-Có bao nhiêu vị trí hạch bạch huyết đã bị ung thư?
-Các hạch bạch huyết đã ung thư hoá này nằm ở vị trí nào của cơ thể?
-Các khối hạch nằm ở một bên hay cả hai bên cơ hoành?
-Ung thư đã di căn đến tủy xương, lách?
-Đã di căn đến những bộ phận khác (ngoài các bộ phận chính của hệ bạch huyết) như gan?

Giai đoạn

“Giai đoạn” là một thuật ngữ dùng để mô tả kích thước, vị trí của ung thư và có di căn hay không. Điều này rất quan trọng bởi vì loại điều trị được áp dụng cho bệnh nhân phụ thuộc vào giai đoạn của bệnh. Hệ thống phân loại của bệnh Hodgkin là:
Giai đoạn I: Một nhóm các hạch bạch huyết bị ảnh hưởng nhưng u lympho chỉ ở một phía của cơ hoành.
Giai đoạn II: Hai hoặc nhiều hơn các nhóm hạch bạch huyết bị ảnh hưởng và u lympho chỉ bị ở một phía của cơ hoành.
Giai đoạn III: Có các tế bào u lympho trong các hạch bạch huyết ở trên và dưới cơ hoành. Lách cũng có thể bị tổn thương.
Giai đoạn IV: U lympho đã lan tràn ra ngoài các hạch bạch huyết, ví dụ như đến gan, phổi hoặc tuỷ xương.


H10- Các giai đoạn của bệnh Hodgkin

Cùng với việc đánh số cho mỗi giai đoạn, các bác sĩ còn sử dụng một mã ký tự, chữ A hoặc B để cho biết bệnh nhi có những triệu chứng cụ thể như sốt, giảm cân đáng kể (hơn 1/10 trọng lượng cơ thể trong 6 tháng gần đây nhất) hoặc ra mồ hôi ban đêm. Nếu bệnh nhân không có những triệu chứng đó thì u lympho sẽ được phân loại là A, còn nếu chúng có những triệu chứng đó thì được xếp độ là B.

Khi khám ung thư định kỳ, có thể cần dùng các xét nghiệm trên hoặc sinh thiết gan, tủy xương, và những bộ phận khác.

Khi sinh thiết tủy xương: Dùng một kim dài, đâm xuyên qua lớp cơ đến xương chậu để hút tủy xương. Đôi khi, cần phải dùng đến phương pháp nội soi ổ bụng để lấy mô làm sinh thiết


E. Điều trị:

1. Chuẩn bị cho việc chữa trị.

Người bị bệnh Hodgkin nên tiêm phòng cúm, viêm phổi, viêm màng não.

2. Các phương thức điều trị: Xạ trị và hóa trị là hai phương thức điều trị thông thường nhất. Các phương pháp điều trị khác như cấy ghép tủy xương, ghép tế bào gốc, và trị liệu sinh học (biological therapy), điều trị trúng mục tiêu (target therapy) còn đang trong vòng thử nghiệm lâm sàng (clinical trial).

3. Xạ Trị: Dùng tia xạ để thiêu huỷ tế bào ung thư. Tùy theo giai đoạn của bệnh, có thể dùng xạ trị đơn độc hoặc kết hợp với hoá trị liệu. Tia xạ dùng điều trị bệnh Hodgkin là tia ngoài. Dùng máy chiếu tia xạ nhắm tới một bộ phận của cơ thể để điều trị tại chỗ khối u (local therapy)

4. Hóa trị: Phối hợp nhiều loại hóa chất (combination chemotherapy) để điều trị bệnh Hodgkin theo từng đợt. Đa số các hóa chất đều được dùng tiêm truyền tĩnh mạch, một vài loại thuốc dùng đường uống. Thuốc theo máu luân lưu khắp cơ thể, nên được xem là điều trị toàn thân (systemic therapy).

Sau đây là một số phác đồ điều trị đầu tay bệnh Hodgkin (Hodgkin's lymphoma).
• Phác đồ MOPP (mechlorethamine, vincristine, procarbazine, prednisone) do Vincent DeVita và các đồng sự phát triển vào những năm 1960, chủ yếu có vai trò lịch sử.
• Phác đồ ABVD (Adriamycin, bleomycin, vinblastine, dacarbazine) do Gianni Bonadonna và các đồng sự phát triển vào những năm 1970. Phối hợp này hiện đang là phác đồ điều trị chuẩn cho bệnh Hodgkin.
• Phác đồ Stanford V (doxorubicin, vinblastine, mustard, bleomycin, vincristine, etoposide, prednisone) phát triển tại đại học Stanford University bởi Sandra Horning và các đồng sự. Dùng phối hợp nhiều thuốc trong một thời gian ngắn để giảm bớt tác dụng phụ
• Phác đồ BEACOPP (bleomycin, etoposide, doxorubicin, cyclophosphamide, vincristine, procarbazine, prednisone) được phát triển ở Đức bởi Volker Diehl và đồng sự.
• Các phác đồ điều trị cứu nguy: Dùng khi các phác đồ điều trị đầu tay thất bại:
+ ICE (ifosfamide, carboplatin, etoposide),
+ DHAP (cisplatin, cytarabine, prednisone), và
+ ESHAP (etoposide, methylprednisolone, cytarabine, cisplatin).
+ EPOCH (etoposide, vincristine, doxorubicin, cyclophosphamide, Prednisone)


F. Biến chứng:

Khi điều trị bệnh Hodgkin, thường dùng các liệu pháp đủ mạnh để diệt tế bào ung thư, nhưng cũng gây tổn thương cả những tế bào bình thường, do đó sẽ gây ra nhiều biến chứng. Các biến chứng thường tùy thuộc vào loại hóa chất, liều lượng, cùng với lượng tia xạ sử dụng. Có thể phối hợp thêm các loại thuốc giảm đau, chống nôn v.v. để giúp bệnh nhân chịu đựng được việc điều trị.

1. Xạ Trị: Biến chứng tùy thuộc vào vị trí cơ thể được điều trị, bệnh nhân thường yếu sức và mệt mỏi:
• Rụng tóc, rụng lông, viêm đỏ, khô rát, thẫm màu nơi vùng da chiếu tia
• Xạ trị vùng cổ, ngực: khô, rát họng, nuốt khó, ho khan, khó thở
• Xạ trị vùng bụng: buồn nôn, nôn, tiêu chảy, tiểu rát
• Xạ trị vùng xương chậu: Mất máu, dễ nhiễm trùng hoặc xuất huyết.
Khi xảy ra các biến chứng này, nên ngưng xạ trị một thời gian cho tủy xương hồi phục trước khi tiếp tục điều trị

2. Hóa Trị Liệu: Tùy theo loại hóa chất và liều lượng thuốc sử dụng. Nhìn chung, các loại hóa chất điều trị bệnh Hodgkin thường ảnh hưởng đến những tế bào có tốc độ tăng trưởng nhanh của cơ thể. Các tế bào đó là:
• Tế bào máu: bạch cầu (giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng), tiểu cầu (làm đông máu), hồng cầu (đem oxygen đi khắp cơ thể). Các tế bào máu bị hủy hoại khiến bệnh nhân thường dễ bị nhiễm trùng, xuất huyết (do máu không đông), và cảm thấy yếu sức, mệt mỏi (do thiếu máu, thiếu oxygen).
• Tế bào ở chân tóc bị hủy hoại gây rụng tóc. Tóc có thể mọc trở lại nhưng màu tóc và sợi tóc có thể thay đổi.
• Niêm mạc hệ tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn): bệnh nhân bị lở miệng, môi, tiêu chảy, biếng ăn.

3. Cấy ghép tủy xương (bone marrow transplantation): Khi phải điều trị với một lượng hóa chất và tia xạ quá cao, các bệnh nhân thường bị nhiễm trùng, xuất huyết và kiệt sức. Ngoài ra, tế bào tủy dùng cho ghép có thể phản ứng lại với cơ thể (graft-versus-host disease, GVHD), nhất là trong trường hợp dị ghép (tế bào ghép đến từ người hiến tặng).
Khi xảy ra GVHD, gan, da, và bộ phận tiêu hóa bị ảnh hưởng. Triệu chứng của GVHD có thể nhẹ (tiêu chảy, da tấy đỏ) hoặc rất nặng (viêm gan) và xảy ra ở bất cứ thời điểm nào trong thời gian ghép tủy, ngay cả nhiều năm sau khi điều trị. Dùng steroid để điều trị phản ứng này.

4. Trị liệu Sinh học: Các biến chứng thông thường như da ngứa ngáy, tấy đỏ, sốt, đau cơ, nhức đầu, là những triệu chứng tương tự cảm cúm (nên gọi là "flu-like"). Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể dễ bị chảy máu, giữ nước.

5. Phẫu Thuật: Biến chứng tùy thuộc vào vị trí mổ, phương pháp phẫu thuật và tình trạng sức khoẻ chung của bệnh nhân. Biến chứng thường gặp là mất sức, mệt mỏi nhiều ngày sau phẫu thuật.

G. Những tác dụng phụ muộn

Một số ít trẻ em có thể gặp những tác dụng phụ sau nhiều năm. Các tác dụng phụ đó bao gồm sự giảm phát triển xương, thay đổi chức năng của tim và phổi, tăng nguy cơ phát triển các bệnh ung thư khác trong thời gian sau của cuộc đời.
Sau khi điều trị bằng hoá chất, một số trẻ em (đặc biệt là các bé trai) có thể bị vô sinh. Cha mẹ của các cậu bé lứa tuổi thanh thiếu niên có thể tính đến việc sử dụng ngân hàng tinh trùng trước khi việc điều trị bắt đầu. Khi đó, tinh trùng sẽ được lưu giữ, bảo quản để có thể sử dụng trong những năm sau này.
Bác sĩ của bệnh nhi cần giải thích thật kỹ về các tác dụng phụ muộn bất kỳ nào đó

H- Tiếp tục theo dõi

Khoảng 9/10 trẻ em bị u lympho Hodgkin được chữa khỏi. Nếu ung thư tái phát, cần phải điều trị với liều cao hơn hoặc sử dụng các loại thuốc khác.
Sau khi kết thúc việc điều trị, bệnh nhi sẽ được kiểm tra thường xuyên bằng chụp cắt lớp vi tính và các xét nghiệm huyết học tại bệnh viện.
Nếu gia đình bệnh nhi có những lo lắng riêng về tình trạng và việc điều trị của con mình, thì nên thảo luận với bác sĩ điều trị, là người hiểu rõ về bệnh trạng của trẻ.
Trường hợp người bệnh đang có thai, tùy tình huống, BS có thể cho nạo phá thai hoặc cho sanh sớm hơn dự định. Thai kỳ cũng là một yếu tố làm bùng phát bệnh Hodgkin. Bệnh nhân chỉ được phép có thai trở lại khi bệnh đã được điều trị khỏi hoàn toàn và không cần sử dụng bất kỳ phương thức điều trị nào khác trong khoảng thời gian tối thiểu là 3 năm.

Hóa trị & xạ trị đều gây suy yếu hệ thống miễn dịch. Do đó, song song với việc điều trị, bệnh nhân nhất thiết phải được nghỉ ngơi hoàn toàn để phòng tránh các bệnh cơ hội khác như cảm lạnh, cúm hoặc các viêm nhiễm hô hấp, tiêu chảy, Nên phòng tránh các vết cắt, trầy xước hoặc chấn thương có thể xảy ra trong quá trình tập thể dục. Nên tích cực vận động sớm, sau mỗi đợt điều trị
Một vài bệnh nhân bị suy sụp tinh thần sau những đợt điều trị, lúc đó vai trò của các BS tâm lý là rất cần thiết. Người bệnh nên tham gia vào các hoạt động xã hội, hiệp hội hoặc các nhóm bệnh nhân cùng cảnh ngộ để cùng trao đổi với nhau tất cả những kinh nghiệm về bệnh và tâm tư tình cảm của mình.

Việc tái khám định kỳ rất quan trọng. Hầu hết lymphôm Hodgkin không tái phát sau điều trị. Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp bị tái phát. Sau khi điều trị, hầu hết các bệnh nhân Hodgkin đều trở về cuộc sống bình thường, vẫn có thể lập gia đình và sinh sản như những người khác.


II- U LYMPHO KHÔNG HODGKIN (Non Hodgkin Lymphoma)

U lymphô không Hodgkin nguyên phát là loại bệnh lý ung thư của hệ tạo huyết.


H11- Hệ bạch huyết (amidan, lách, ruột, da, tuỷ xương, các mạch bạch huyết)


H12- Hệ bạch huyết (gan, lách, các hạch bạch huyết, mạch bạch huyết) và cơ hoành


H13- Các cụm hạch bạch huyết: mặt, cổ, thượng đòn, nách, trung thất, lách, mạc treo, cạnh động mạch chủ, chậu, đùi, bẹn v.v.

Tên gọi còn xa lạ với nhiều người, song bệnh này lại khá phổ biến.

Tại Mỹ, năm 2006 có 58.870 trường hợp mới và 18.840 ca tử vong.


H14- Một trong những bệnh nhân tử vong vì lymphoma non-Hodgkin

Tại TP.HCM năm 2003, tỷ lệ bệnh ở nam giới là 4,6/100.000 dân và ở nữ giới là 3,2/100.000 dân. Bệnh Viện Ung Bướu TP.HCM mỗi năm tiếp nhận khoảng 500 trường hợp bệnh mới.

Được hình thành từ những rối loạn của dòng tế bào lymphô, bệnh thường hay xuất phát đầu tiên tại hạch. Ung thư hạch được xếp thành 2 nhóm lớn: nhóm có diễn tiến chậm, thời gian sống sót hơn 10 năm và nhóm có diễn tiến nhanh nên thời gian sống sót ngắn hơn.


H15- Các loại tế bào bạch huyết


H16- Phân loại lymphoma non-Hodgkin

H17- Lymphoma Burkitt


H18- Hình ảnh giải phẫu bệnh của lymphoma Burkitt


Hiện vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã cho thấy có một số yếu tố nguy cơ:

- Suy giảm miễn dịch do nhiễm HIV, do dùng thuốc chống thải ghép...

- Nhiễm trùng (HIV, Helicobacter pylori, HCV...).

- Tuổi trên 60.

- Các yếu tố khác như béo phì, ngộ độc thuốc diệt cỏ, dioxin v.v.

H19- Bệnh nhân nhiễm HIV kèm lymphoma non-Hodgkin

Về triệu chứng: nổi hạch, sụt cân, sốt kéo dài, ho, khó thở , đau ngực, mệt mỏi, suy kiệt kéo dài, đau trướng bụng, đầy bụng.

Khi các triệu chứng kéo dài quá 2 tuần thì phải đi khám để tìm nguyên nhân.

Click this bar to view the full image.

H20- Bệnh nhân lymphoma non-Hodgkin

A- Xác định bệnh

Lymphô không Hodgkin là một bệnh toàn thân rất khó chẩn đoán, cần phải khám lâm sàng (cổ, nách, bẹn, bụng), làm xét nghiệm máu, chụp X-quang ngực, siêu âm bụng, làm sinh thiết hạch.

H21- Hình ảnh CT scan phát hiện non-Hodgkin lymphoma


H22- Hình ảnh PET scan của bệnh nhân non-Hodgkin lymphoma

B- Điều trị

Lymphô không Hodgkin là một trong những loại ung thư có khả năng trị khỏi, cả trong giai đoạn muộn; ngay cả khi ung thư đã di căn thì vẫn còn đến 40% khả năng đáp ứng điều trị lâu dài.

Khi đã xác định bị ung thư, việc xác định giai đoạn lâm sàng giúp cho việc tiên lượng bệnh. Các xét nghiệm cần làm là CT scan, MRI, siêu âm, làm tủy đồ. Bệnh có 4 giai đoạn: 1, 2, 3, 4. Ký hiệu A có nghĩa là không có triệu chứng, còn B là có triệu chứng (sốt, đổ mồ hôi đêm, sụt cân).

C- Các phương pháp điều trị

Lymphô không Hodgkin có đến 35 thể bệnh khác nhau, phương pháp điều trị cũng khác nhau. Một số trường hợp chỉ bắt đầu điều trị khi có triệu chứng. Phác đồ điều trị tùy thuộc vào diễn tiến và giai đoạn bệnh.
- Xạ trị: có vai trò trong một số ca bệnh ở giai đoạn 1.
- Hóa trị: là liệu pháp chủ yếu (truyền hóa chất qua đường tĩnh mạch hay uống hóa chất viên).
- Phương pháp điều trị đúng mục tiêu: là liệu pháp tiên tiến với các dược phẩm mới hữu hiệu, lại ít gây tác dụng phụ như rituximab (Mab-Thera). Tuy nhiên giá thuốc rất cao (khoảng 30 triệu đồng/lần điều trị).

- Ghép tế bào gốc (ghép tủy): được dùng trong các trường hợp có tiên lượng rất xấu, hoặc tái phát, hoặc không đáp ứng với điều trị.

Tại sao cần phân biệt lymphoma Hodgkin và non-Hodgkin mặc dù các bệnh cảnh lâm sàng và phương thức điều trị gần như giống nhau?
Vấn đề là ở chỗ tỷ lệ điều trị thành công cao hay thấp.
Nếu bệnh nhân được chẩn đoán là non-Hodgkin và được điều trị triệt để, tỷ lệ điều trị dứt bệnh là trên 70%.
Tỷ lệ này tăng lên đến trên 90% trong một số trường hợp ung thư hạch, đặc biệt trong nhóm non-Hodgkin.


Albatros

Xem chi tiết…

Nẹp khí quản nhân tạo: Thành tựu mới của y học hiện đại

Một em bé người Mỹ đã được cứu sống nhờ việc sử dụng nẹp khí quản nhân tạo, đó là sản phẩm được làm ra từ máy in 3D

Cậu bé Kaiba 20 tháng tuổi, con trai anh Bryan Gionfriddo, trước đây đã bị mắc một chứng bệnh hiếm gặp có tên khoa học là tracheobronchomalacia, khiến phế quản của cậu bé bị sập và hơi thở bị chặn lại. Tuy nhiên, "Các bác sỹ đã nói rằng thằng bé vẫn còn cơ hội sống sót", mẹ của Kaiba cho biết.
nep khi quan

Hãng tin Upi cho biết các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi C.S. Mot đã được sự đồng ý đặc biệt khẩn cấp từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược cho phép phẫu thuật khâu thanh nẹp được "in" từ máy in 3D vào khí quản của Kaiba. Sau khi tiến hành chụp CT khí quản bị hư của cậu bé, các bác sĩ đã sử dụng máy in 3D để in 100 ống nhỏ và nhờ tia laser khâu chúng lại với nhau trong khí quản của cậu bé.

Giáo sư Tiến sĩ Glenn Green thuộc Đại học Michigan cho biết: "Thật tuyệt vời! Ngay sau khi thanh nẹp được đưa vào, phổi của bé đã bắt đầu hoạt động lên xuống và chúng tôi biết cậu bé sẽ ổn thôi". Ông là người đã đưa ra ý tưởng này cũng với đối tác của mình là Tiến sĩ Scott Hollister.

Thanh nẹp khí quản sử dụng trong ca phẫu thuật trên được làm từ một chất polymer sinh học có tên gọi là polycaprolactone. Sẽ mất khoảng ba năm để chất polymer này tự thoái. Thời gian đó đủ dài để cho khí quản của bé Kaiba phát triển khỏe mạnh cùng với thanh nẹp có tác dụng như một bộ xương chống đỡ cho những đoạn sụn bị sập trong khí quản.

Kaiba đã ngừng thở máy 21 ngày sau ca phẫu thuật. Kể từ đó, cậu bé không còn bị khó thở nữa. Trước khi những ống nhỏ polycaprolactone được đưa vào khí quản, Kaiba thường xuyên bị ngừng thở và cần được hô hấp nhân tạo hàng ngày. Lần đầu tiên bé gặp hiện tượng này là khi được sáu tuần tuổi. Lúc đó, da của Kaiba bị chuyển sang màu xanh.

"Ngay cả với các phương pháp điều trị tốt nhất hiện có, cậu bé vẫn sẽ phải tiếp tục chịu đựng những hiện tượng trên. Cậu bé đã suýt nữa phải đi gặp thần chết", Giáo sư Tiến sỹ Green cho biết.

Riêng Tiến sỹ Hollister thì cho rằng trường hợp Kaiba "chắc chắn là dấu mốc nổi bật" trong sự nghiệp của ông. Tập san y học hàng đầu New England Journal of Medicine cũng liệt kê ca phẫu thuật này là một trong những sự kiện tiêu biểu của nền y học.
Xem chi tiết…

7 thói quen xấu khiến bạn dễ mắc bệnh ung thư


Hãy bỏ ngay những thói quen xấu dưới đây nếu không thì bạn sẽ có nguy cơ mắc ung thư rất cao


thoi-quen-xau-gay-ung-thu
Thói quen xấu gây ung thư
 1. Hút thuốc

Số lượng những người hút thuốc bị mắc căn bệnh ung thư cao hơn những người không hút thuốc gấp khoảng từ 7 đến 11 lần. Những căn bệnh như ung thư gan, ung thư phổi, ung thư khí quản gần đây tăng lên khoảng 3% thường có mối liên quan chặt chẽ với những người nghiện thuốc.

2. Lười vận động
Lười vận động có thể sẽ khiến bạn mắc phải bệnh ung thư. Các chuyên gia sức khỏe cho biết rằng, nếu mỗi ngày bạn vận động dưới 30 phút thì vô hình bạn đã nâng cao khả năng mắc bệnh ung thư của mình.

3. Uống rượu

Rượu hay bất kể loại đồ uống nào chứa cồn cũng không tốt cho sức khoẻ nếu bạn uống quá nhiều. Cho dù là bia, rượu vang hay rượu anh đào cũng có thể là nguyên nhân gây nên căn bệnh ung thư. Nếu nhất định phải uống, nam giới chỉ nên uống từ 30 đến 45 ml, còn phụ nữ thì không nên uống quá 15 ml một ngày.

4. Thường xuyên uống đồ uống có đường

Sử dụng đồ uống có đường dễ khiến bạn hấp thụ nhiều năng lượng, và vì loại đồ uống này có vị ngọt nên khi uống bạn sẽ không nhớ là mình đã uống bao nhiêu. Uống càng nhiều thì bạn càng có nguy cơ dễ bị béo phì. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện rằng, những phụ nữ béo phì đối diện với sự gia tăng nguy cơ phát triển ung thư. Theo giải thích của các nhà nghiên cứu, béo phì là một yếu tố nguy cơ gây bệnh ung thư và khi phụ nữ tiêu thụ nhiều thức uống ngọt sẽ góp phần gây béo phì, dẫn đến làm tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư tử cung.

5. Ăn quá ít các loại rau quả

Rau tươi và hoa quả có thể giúp bạn làm giảm nguy cơ bị mắc bệnh ung thư. Mỗi ngày bạn nên ăn khoảng từ 400 gram rau xanh các loại có màu xanh, vàng, tím để đảm bảo sức khoẻ và nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể.

6. Ăn quá nhiều thịt đỏ

Ăn quá nhiều thịt đỏ khiến bạn dễ bị mắc các căn bệnh như ung thư vú, ung thư dạ dầy.Mỗi tuần bạn chỉ nên ăn nhiều nhất là khoảng 500 gram thịt đỏ và cũng hạn chế ăn các loại thực phẩm chế biến sẵn vì nó không tốt cho sức khoẻ của bạn.

7. Ăn quá nhiều muối

Thực phẩm mặn và thực phẩm có chứa nhiều muối sẽ khiến bạn dễ bị mắc bệnh ung thư dạ dầy. Mỗi ngày bạn chỉ nên ăn khoảng 6gram muối là đủ.

Theo DanViet
Xem chi tiết…

4 điều nguy hiểm cần tránh khi tắm vào mùa đông

Tắm để giữ vệ sinh sạch sẽ trong mùa đông là cần thiết. Tuy nhiên, điều quan trọng là tắm vào mùa đông phải đúng cách mới có thể bảo vệ sức khỏe nếu không thì bạn sẽ rất dễ mắc các bệnh mà đặc biệt là các bệnh về khí quản

Để vừa giữ vệ sinh thân thể vừa giữ sức khỏe tốt nhất, bạn nên tránh 4 điều sau đây khi tắm vào mùa đông:

1. Tắm quá muộn

Vào mùa đông, càng về đêm, nhiệt độ càng hạ thấp và lạnh hơn khiến các mạch máu trong cơ thể co lại. Nếu tắm muộn về đêm, dù tắm với nước nóng cũng làm cho các tĩnh mạch giãn ra, dễ dẫn đến hạ huyết áp rất nguy hiểm cho sức khỏe, thậm chí gây tử vong.

Những nguyết huyết áp thấp càng không nên tắm muộn vào mùa đông vì sự thay đổi đáng kể ở nhiệt độ cơ thể khi các tĩnh mạch giãn ra có thể dễ gây ra hiện tượng thiếu máu não, đột quỵ và hôn mê. Từ sau 23 giờ là thời điểm bạn đặc biệt không nên tắm, gội đầu để tránh cơ thể nhiễm lạnh.


2. Tắm nước quá nóng hoặc nước lạnh

Bạn không nên tắm nước nóng ngay cả trong mùa đông bởi vì nước quá nóng có thể gây ảnh hưởng cho tim và làn da của bạn. Nhiệt độ cao của nước có thể là nguyên nhân phá vỡ chất dầu trên bề mặt da, làm cho lỗ chân lông nở to, da mất nhiều nước và trở nên khô hơn.

Nhiệt độ cao của nước cũng có thể khiến cho tĩnh mạch trên da phình to hơn, cản trở việc lưu thông máu. Từ đó, lượng máu, dưỡng khí cung cấp cho tim bi giảm đi và gây ảnh hưởng đến sức khỏe của tim.

Trong mùa đông, nhiệt độ cơ thể thường giảm, sức đề kháng và miễn dịch cũng giảm nên cơ thể không có khả năng phòng bệnh như trong các mùa khác. Và những tác động bên ngoài vào cơ thể như tắm nước lạnh, không mặc đủ ấm... khiến nhiệt độ cơ thể càng giảm sẽ tăng nguy cơ mắc các bệnh cảm lạnh, bệnh đường hô hấp và đột quỵ.

Tốt nhất, bạn nên tắm nước ấm và giữ da khô thoáng để tránh nhiễm lạnh. Nhiệt độ của nước tắm cần phù hợp với thân nhiệt của bạn. Bình thường, nhiệt độ nước tắm thích hợp cho mùa đông là từ 24-29 độ C.

3. Tắm ở nơi có gió lùa

Cho dù là mùa đông hay mùa hè thì việc tắm ở nơi có gió lùa hoặc tắm xong ra ngồi quạt, điều hòa... cũng là điều không được khuyến khích.  Vào mùa đông, điều này càng nguy hiểm hơn vì nếu tiếp xúc với gió lùa trong hoặc sau khi tắm sẽ khiến mạch máu trong cơ thể co lại đột ngột, nhiệt độ cơ thể cũng giảm nhanh. Điều này dễ dẫn đến nguy cơ đột quỵ, tai biến, tử vong.

Do vậy, để an toàn cho sức khỏe, nên tắm ở nơi kín gió. Sauk khi tắm, nên lau khô người rồi mặc đồ ấm trước khi bước ra ngoài phòng tắm vì nhiệt độ bên ngoài có thể thấp hơn phòng tắm.

4. Tắm quá lâu

Tắm quá lâu với nước nóng hoặc ấm sẽ làm cho da mất nước nhanh và nhiều hơn. Đồng thời, áp lực lên tim cũng tăng do việc lưu thông trong cơ thể bị cản trở (vì tĩnh mạch trên da giãn ra). Trong trường hợp nghiêm trọng, tình trạng này còn có thể là nguyên nhân dẫn đến thiếu máu istim, gây ra co rút mạch, tim đập thất thường và đột quỵ, tử vong. Trường hợp nhẹ hơn, tuy không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng có thể khiến cơ thể mệt mỏi do dưỡng khí trong máu cung cấp cho các cơ quan trong cơ thể không được đầy đủ.

Bởi vậy, dù là mùa nóng hay mùa lạnh, bạn cũng không nên tắm quá lâu để tránh ảnh hưởng sức khỏe, thời gian tắm chỉ nên kéo dài 15-20 phút là phù hợp.

Cách giữ gìn vệ sinh trong mùa lạnh

Nhiều người cho rằng, vào mùa đông, cơ thể ít vận động, khí hậu lại trong lành, ít bụi bặm nên cơ thể không nhiễm bẩn hay vi trùng, vì vậy, việc tắm rửa, vệ sinh thường xuyên là không cần thiết. Thực tế không phải như vậy. Vi trùng, vi khuẩn rất nhỏ và có ở khắp mọi nơi, ngay cả khi chúng ta không nhìn thấy thì không có nghĩa là tay và cơ thể sạch sẽ. Do đó, việc tắm hàng ngày và rửa tay thường xuyên là hết sức cần thiết để ngăn chặn vi khuẩn sinh sôi và xân nhập vào cơ thể.

Bạn cần rửa tay thường xuyên trong ngày với xà phòng diệt khuẩn, đặc biệt là sau trước và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi tiếp xúc với các chất bẩn, hóa chất độc hại hoặc với các bề mặt có khả năng nhiễm vi trùng cao như đồ dùng ở bệnh viện... Nếu không thể tắm thường xuyên hàng ngày thì cũng cần thay quần áo và vệ sinh bằng nước ấm, ít nhất 2-3 ngày nên tắm một lần với sữa tắm diệt khuẩn. Khi tắm, bạn nên xối nước vào hai chân, hai tay rồi mới đến toàn bộ cơ thể để cơ thể quen dần với sự thay đổi nhiệt độ, tránh tình trạng sốc nhiệt, nguy hiểm cho cơ thể.
Xem chi tiết…

Top 5 loại trái cây giúp "làm sạch" gan đến bất ngờ

Gan có trách nhiệm thải ra các chất độc hại. Vì vậy, "làm sạch" gan là việc hết sức cần thiết để giúp nó thực hiện chức năng của mình một cách hoàn hảo.

Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể, là cơ quan duy nhất trong cơ thể có khả năng tái sinh vì nó có thể thay thế các mô tổn thương bằng các tế bào mới. Nó giúp chuyển hóa chất béo, là môi trường giải độc hóa chất, sản xuất chất hóa sinh cần thiết cho tiêu hóa...

Thêm vào đó, nó có trách nhiệm tổng hợp cholesterol, tổng hợp protein, và thải ra các chất độc hại. Vì vậy, "làm sạch" gan là việc hết sức cần thiết để giúp nó thực hiện chức năng của mình một cách hoàn hảo.


Lợi ích của việc "làm sạch" gan bao gồm:

- Cải thiện chức năng gan
- Giảm vấn đề bệnh tật ở gan
- Trợ giúp tiêu hóa
- Thúc đẩy sự trao đổi chất
- Thanh lọc máu
- Làm sạch ống mật
- Kiểm soát dị ứng
- Giảm nguy cơ sỏi mật và làm giảm đau bụng do rối loạn túi mật
- Giảm các triệu chứng chữa bệnh như mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn, chán ăn...

Tuy nhiên, "làm sạch" gan không được coi là phương pháp chữa trị tổn thương gan do các bệnh tự miễn dịch, tiêu thụ rượu quá mức... Hơn nữa, các can thiệp "làm sạch" gan nó có thể gây tác dụng phụ như nhức đầu, tiêu chảy, nôn, đau bụng, và như vậy.

Bởi vậy, người bị bệnh tiểu đường, huyết áp thấp, và bệnh tim đặc biệt, nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ trước khi chọn cho một thủ tục "làm sạch" gan bởi vì nó liên quan đến việc ăn chay.

Dấu hiệu gan bị tổn thương

- Phân nhạt màu (do thiếu sản xuất mật)
- Nước tiểu sẫm màu (vì các thành phần mật bilirubin - màu cam không được lọc)
- Chảy máu hoặc dễ bị bầm tím bất thường (khả năng của gan là sản xuất protein để máu đông bình thường, tránh bị tổn thương)
- Phù (giữ nước)
- Mệt mỏi (có thể là do chức năng trao đổi chất suy gan)
- Mất cảm giác ngon miệng

Bệnh gan bao gồm các bệnh như vàng da, bệnh gan nhiễm mỡ, viêm gan, xơ gan, bệnh gan mãn tính và ung thư gan.

Hầu hết các vấn đề về gan là do rượu, ma túy, và virus gây ra. Hệ thống miễn dịch, di truyền và rối loạn chuyển hóa cũng có thể lbị ảnh hưởng và gây ra các bệnh về gan.

Để bảo vệ gan, bạn có thể lựa chọn cách tự nhiên, đơn giản nhất, đó là nhờ vào các loại trái cây. Dưới đây là 5 loại trái cây tốt nhất giúp làm sạch gan.

1. Bưởi

Bưởi có chứa các hợp chất kích thích việc sản xuất và hoạt động của các enzym hỗ trợ trong giải độc gan. Hơn nữa, nó giúp "làm sạch" và đào thải các chất gây ung thư ra khỏi gan.

Ngoài ra, bưởi còn là loại trái cây tốt cho sức khỏe tổng thể của bạn quá vì nó làm giảm cholesterol LDL (cholesterol xấu), ngăn ngừa sỏi thận và bảo vệ chống lại một số loại ung thư (ung thư gan, ung thư dạ dày...). Loại trái cây có tính axit này cũng giúp bạn giảm cân hiệu quả.

Nếu muốn ăn bưởi nhằm mục đích "làm sạch" gan bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ vì nó có thể ảnh hưởng đến một số loại thuốc như thuốc chống tăng huyết áp, tim mạch, bổ sung canxi, hạ mỡ máu...

2. Cam, quýt

Cam và quýt là một nguồn cung cấp vitamin C, vitamin E, vitamin B1, vitamin B3, vitamin B9, và caroteniods... rất phong phú. Bên cạnh đó, chúng còn chứa magiê, đồng và kẽm nên rất có lợi cho sức khỏe

Tất cả những chất dinh dưỡng có trong cam đều cần thiết để hỗ trợ sức khỏe của gan. Hơn nữa, các chất chống oxy hóa trong bưởi còn giúp "làm sạch" kí sinh trùng trong gan, đào thải các độc tố trong gan rất tốt. 

3. Bơ

Quả bở có chứa chất xơ, chất béo lành mạnh, và các vitamin như vitamin B, vitamin C và vitamin E. Đây là những chất dinh dưỡng tốt cho sức khỏe gan tổng thể. Bơ sản xuất một chất chống oxy hóa gọi là glutathione giúp tăng khả năng "làm sạch" của gan.

Ngoài ra, loại quả này có lợi cho việc sửa chữa tổn thương gan, bảo vệ gan tránh được một loại độc tố mạnh mẽ (galactosamine). Bạn chỉ cần ăn 1-2 quả bơ một tuần là đã giúp cho sức khỏe của gan.

4. Táo

Táo hoặc nước táo giúp "làm sạch" gan bởi vì nó rất hữu ích trong việc giải độc tố khỏi cơ thể. Nước ép táo có chứa axit malic giúp hòa tan sỏi mật.

Trong táo còn có chứa một chất xơ gọi là pectin, đây là chất có tác dụng giúp cơ thể đào thải các kim loại nặng được tích lũy từ thực phẩm, nó còn giúp loại bỏ các vi khuẩn đường ruột, viêm bàng quang, ngăn ngừa các bệnh về gan và da.

5. Chanh

Quả chanh có tác dụng kích thích giải độc và cân bằng mức độ pH trong cơ thể. Là loại quả giàu vitamin C, chanh giúp gan đào thải các chất béo và chất thải sinh hóa ra khỏi cơ thể.

Bạn nên uống nước chanh ấm buổi sáng (nước ấm trộn với vài giọt nước cốt chanh tươi) để giúp kích thích sản sinh các enzym trong gan nhằm loại bỏ chất thải độc hiệu quả.

Bên cạnh việc lựa chọn các loại thực phẩm có lợi cho gan như trên, bạn cũng nên áp dụng một chế độ ăn uống thanh lọc cơ thể, tránh ăn nhiều thực phẩm ăn nhanh và tinh chế như khoai tây chiên, khoai tây chiên, bánh quy, bánh mì trắng... tránh các loại đường tinh chế... để giúp gan khỏe mạnh.

Ngoài ra, bạn đừng bỏ qua những điều cần thiết như sau nếu muốn gan luôn "sạch" và làm tốt chức năng của nó:

- Không uống quá nhiều rượu, caffeine
- Ăn các loại rau màu xanh đậm như bông cải xanh, rau bina, cải xoăn, cải bắp, và như vậy. Chúng rất giàu chlorophyll thực vật giúp loại bỏ độc tố rất tốt. 
- Ăn củ cải và cà rốt hàng gày vì chúng chứa beta carotene, kích thích các tế bào gan. 
- Tỏi cũng được xem là tuyệt vời để làm sạch gan bởi vì nó kích hoạt các enzym gan.
- Uống 8-10 ly nước trong một ngày để cho phép gan để tuôn ra độc tố ra khỏi cơ thể.
- Llựa chọn các loại trái cây và rau quả hữu cơ bởi chúng chứa nhiều chất chống oxy hóa so với thực phẩm thông thường.
Xem chi tiết…

7 thực phẩm giúp giảm đau cho người viêm khớp

Chuối rất giàu kali, folat và vitamin C, B6, tất cả đều là những dưỡng chất giúp khớp khỏe mạnh và giúp giảm tình trạng đau và viêm của bệnh. 

Viêm khớp là tình trạng viêm mạn tính của các khớp, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sinh hoạt hàng ngày của người bệnh như đi bộ, mặc quần áo, làm việc nhà. Phương pháp điều trị viêm khớp tốt nhất là toàn diện, kết hợp hoạt động, liệu pháp nhiệt, thuốc và các chế phẩm bổ sung cũng như một chế độ ăn bổ trợ cho sức khỏe của khớp.

Dưới đây là 7 loại thực phẩm có thể chống lại bệnh viêm khớp và giúp kiểm soát tình trạng bệnh, theo Naturalnews.

1. Chuối

Chuối rất giàu kali, folat và vitamin C, B6, đều là những dưỡng chất giúp khớp khỏe mạnh, giảm tình trạng đau và viêm. Ngoài ra, chuối cũng là nguồn cung cấp chất xơ dồi dào, rất tốt cho sức khỏe chung.


2. Ớt chuông

Giống như chuối, ớt chuông cũng rất giàu vitamin C, một chất chống oxy hóa mạnh mẽ giúp giảm những tổn thương mà các gốc tự do gây ra cho cơ thể (trong đó có các khớp). Ớt chuông cũng là loại thực phẩm chống viêm hiệu quả, có thể giúp giảm đau do viêm khớp một cách tự nhiên.

3. Dầu oliu

Dầu oliu, đặc biệt là dầu oliu nguyên chất, rất giàu chất béo lành mạnh và có nhiều thành phần hoạt tính có vai trò như thuốc giảm đau. Rất dễ để bổ sung loại dầu này vào các món ăn.

4. Ngũ cốc toàn phần

Trong khi bột mì trắng tinh chế có thể làm tăng tình trạng viêm ở cơ thể thì ngũ cốc toàn phần lại làm giảm tình trạng viêm và giúp điều trị tận gốc những bệnh giống như viêm khớp. Một thông tin tuyệt vời là các sản phẩm ngũ cốc toàn phần rất dễ tìm nhờ vào nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ.

5. Xoài

Xoài cũng là một loại thực phẩm tuyệt vời để điều trị viêm khớp vì nó rất giàu vitamin E và các chất chống oxy hóa như beta-carotene, giúp chống lại các tổn thương mà gốc tự do gây ra cho các khu vực nhạy cảm như các khớp.

6. Tôm

Tôm và các loài động vật có vỏ khác có chứa các chất chống viêm tự nhiên và cũng là nguồn bổ sung protein cho bạn hàng ngày. Nếu chế biến với dầu oliu sẽ tạo ra một món ăn bổ trợ tốt hơn cho sức khỏe khớp. Đây cũng là loại thực phẩm đa năng, có thể được thêm vào món súp, món xào, món thịt hầm và nhiều món ăn phổ biến khác.

7. Táo

Táo giúp cho khớp được nuôi dưỡng và khỏe mạnh nhờ chứa hàm lượng phong phú các vitamin và chất chống oxy. Chúng giúp giảm viêm tự nhiên và hàm lượng chất xơ cao trong táo cũng tốt cho sức khỏe hệ tiêu hóa nói chung.

Nếu bạn đang tìm phương pháp toàn diện để kiểm soát viêm khớp, hãy xem xét việc thay đổi chế độ ăn bằng cách ăn những loại thực phẩm kể trên. Chúng có thể giúp bạn dần kiểm soát được bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Xem chi tiết…

4 bệnh nguy hiểm cho trẻ do phế cầu khuẩn

Viêm phổi, viêm màng não, viêm tai giữa và nhiễm trùng huyết khiến nhiều trẻ phải nhập viện, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do phế cầu khuẩn.

Trao đổi về cách bảo vệ trẻ em phòng bệnh do phế cầu tổ chức tại TP HCM, chiều 7/12, bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm - Thần Kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho biết, phế cầu (Streptococcus pneumoniae) là loại vi khuẩn khiến trẻ em nhập viện nhiều nhất. Trong đó, viêm tai giữa có thể khiến các bé giảm thính lực, còn lại viêm phổi, viêm màng não và nhiễm trùng máu đều có thể khiến các bé tử vong.

Tại Việt Nam ước tính hằng năm có khoảng gần 3 triệu lượt trẻ em dưới 5 tuổi mắc bệnh viêm phổi. Chỉ riêng Bệnh viện Nhi Đồng 1, trung bình mỗi ngày có khoảng 40 bé bị bệnh đường hô hấp điều trị nội trú, phần lớn các em bị viêm phổi.


Có nhiều nguyên nhân gây viêm phổi nhưng thường gặp nhất là vi khuẩn phế cầu. Loại vi khuẩn này vốn thường trú trong hầu họng và khi có điều kiện như thời tiết thay đổi khiến sức đề kháng yếu thì gây bệnh. "Viêm phổi do phế cầu có tỷ lệ tử vong 10-20%, trẻ dưới 2 tuổi dễ có nguy cơ diễn tiến nặng”, ông Khanh cho biết.

Ngoài việc gây bệnh hô hấp khiến viêm phổi, vi khuẩn phế cầu còn có thể lên não để gây viêm màng não, tỷ lệ tử vong cao. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, không ít trường hợp viêm màng não do phế cầu đã để lại di chứng sau điều trị như giảm thị lực, rối loạn vận động, tổn thương não vĩnh viễn dẫn đến trẻ kém phát triển hoặc yếu liệt chi.

Loại bệnh thứ 3 không kém phần nguy hiểm là nhiễm trùng máu do phế cầu xâm nhập vào máu gây sốc nhiễm trùng. Bệnh nguy hiểm hơn với những trường hợp đã có sẵn những bệnh lý khác, với khoảng 20% bệnh nhi tử vong.

Cuối cùng, vi khuẩn phế cầu còn gây viêm tai giữa cấp với tần suất mắc rất cao ở trẻ nhỏ, khoảng 80% trẻ em dưới 3 tuổi mắc bệnh này. Theo bác sĩ Khanh, nhiều phụ huynh không phát hiện, để đến khi thấy con bị chảy mủ tai mới đưa đến bệnh viện. Khi ấy màng nhĩ đã bị tổn thương. Một số khác phát hiện bệnh, nhưng qua một thời gian thấy không sao, hóa ra bệnh tái phát sau nhiều năm. Lúc này dù điều trị thì thính lực của các em cũng đã bị ảnh hưởng.

Trong 4 bệnh do phế cầu khuẩn gây nên, viêm màng não là bệnh khó phát hiện. Biểu hiện thường thấy là trẻ khóc đêm thường xuyên và bỏ bú kéo dài. Với bé lớn, biểu hiện của viêm màng não có thể là đau đầu và nôn ói.

Với bệnh viêm phổi, triệu chứng ban đầu thường là ho nhiều, sốt cao, khóc quấy, bỏ bú, trẻ có biểu hiện thở nhanh (40-50 lần trong một phút). Với nhiễm trùng máu, các bé sốt, đau đầu, đau nhức cơ kèm ho. Còn với viêm tai giữa, trẻ hay khóc bất thường, khó ngủ, dùng tay kéo hay gãi tai, ở bệnh này chỉ cần người lớn kiểm tra tai của bé sẽ phát hiện bệnh.

Cùng với việc tiêm văcxin phòng bệnh, theo các chuyên gia bệnh truyền nhiễm, giữ ấm cơ thể bé trong mùa mưa và mùa lạnh, cho bé bú mẹ trong 6 tháng đầu đời, giữ vệ sinh môi trường sinh hoạt và giữ vệ sinh cơ thể trẻ là một những cách có thể làm giảm được nguy cơ mắc các bệnh do phế cầu khuẩn gây nên.
Xem chi tiết…

4 cách đơn giản ngăn chặn ung thư vú

Ung thư vú là căn bệnh hay gặp và chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong số các bệnh ung thư của nữ giới trên thế giới. Đây được xem là bệnh đáng sợ nhất đối với phụ  nữ.
Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể ngăn chặn căn bệnh này. Theo tiến sĩ Amir Farid Isahak - một nhà một chuyên gia tư vấn y tế cao cấp ở Malaysia, người tiên phong thúc đẩy các liệu pháp tự nhiên cho phụ nữ mãn kinh - mỗi phụ nữ hãy áp dụng 4 hướng dẫn sau để giảm nguy cơ bị ung thư vú.

ungthu-jpg-1368577244_500x0.jpg
1. Tầm quan trọng của ngủ đủ giấc

Một nghiên cứu gần đây trên 412 phụ nữ sau mãn inh bị ung thư vú cho thấy thiếu ngủ (6 giờ hay ít hơn 6 giờ một đêm) có liên quan đến việc dễ bị ung thư vú hơn và nguy cơ tái phát cao. Kết luận là một giấc ngủ đầy đủ (hơn 6 giờ mỗi ngày) được tiên lượng tốt hơn với bệnh ung thư.

Kết quả này chỉ nghiên cứu trên phụ nữ mãn kinh, các chuyên gia vẫn cho rằng nó có tầm quan trọng với tất cả phụ nữ và kể cả để phòng chống các bệnh ung thư khác. Các chuyên gia kết luận: "Tăng thời gian và cải thiện chất lượng giấc ngủ có thể là con đường đúng để giảm nguy cơ phát triển cũng như tái phát ung thư vú".

Trong năm 2010, Cơ quan nghiên cứu quốc tế về Ung thư (IARC) đã kết luận nhịp sinh học bị xáo trộn có thể làm tăng ung thư vú. Nhịp sinh học quyết định sự tỉnh táo và giấc ngủ của chúng ta, kiểm soát nhiều chức năng sinh học và nó dễ bị xáo trộn ở những người làm việc ban đêm hay làm việc không thường xuyên. 

Một nghiên cứu khảo sát trên 3.000 phụ nữ ở Pháp từ năm 2005 đến 2008 đã chỉ ra phụ nữ làm việc về đêm có khả năng bị ung thư vú cao gấp 30% so với chị em chưa từng làm việc vào ban đêm. Tỷ lệ này còn cao hơn ở những phụ nữ có thời gian làm đêm trên 4 năm hoặc thường xuyên làm đêm cỡ 3 ngày mỗi tuần, bởi vì điều này sẽ đẫn đến nhịp sinh học giữa đêm và ngày thường xuyên bị rối loạn.

Giấc ngủ không đủ còn là nguy cơ gây béo phì, tiểu đường và bệnh tim. Đây là thời gian mà cơ thể nghỉ ngơi, phục hồi sau một ngày làm việc bận rộn. Cho nên hãy cố ngủ hơn 6 tiếng mỗi ngày.

2. Kiểm soát cân nặng

Một nghiên cứu cho rằng những phụ nữ thừa cân hoặc béo phì dương tính với ung thư vú có nguy cơ tái phát cao ngay cả khi họ được điều trị ung thư tốt nhất. Nghiên cứu được American Cancer Society thực hiện ở Mỹ, chỉ ra béo phì có liên quan đến khoảng 30 % nguy cơ tái phát và gần 50% nguy cơ tử vong dù nhận được phương pháp điều trị ung thư tốt nhất.

Theo chuyên gia Amir Farid Isahak , ung thư vú là bệnh thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, nhưng không hẳn đến độ tuổi mãn kinh mới sợ mà cần phòng ngừa thừa cân ngay từ khi còn trẻ. Lời khuyên là phụ nữ nên duy trì trọng lượng bình thường ngay khi còn nhỏ để giảm nguy cơ ung thư vú, cũng như để cải thiện chất lượng cuộc sống.

3. Tập thể dục đầy đủ

Một nghiên cứu trên 3.000 phụ nữ (từ 20 đến 98 tuổi) tập thể dục ít nhất 10 tiếng mỗi tuần cho thấy đã giảm khoảng 30% nguy cơ phát triển ung thư vú. Phụ nữ mãn kinh là đối tượng được giảm nhiều nhất. Một nghiên cứu khác chỉ ra giảm cân bằng phương pháp tập thể dục có tác dụng hơn nữa với ung thư vú. Tăng cân có thể vô hiệu hóa một số lợi ích thu được từ tập thể dục. 

Tiến sĩ Amir Farid Isahak đã chứng minh một người đang thừa cân hoặc béo phì, nếu giảm được 5 kg trọng lượng thì có thể giúp giảm huyết áp, cholesterol và cũng có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh tim, bệnh tiểu đường loại 2 đột quỵ và viêm xương khớp. Chưa thể khẳng định giảm được ung thư vú nhưng nó sẽ có nguy cơ thấp hơn so với người không giảm được kg nào.

4. Chế độ ăn nhiều rau củ quả

Có những nghiên cứu đã chỉ ra chế độ ăn nhiều thịt đỏ và chất béo tăng nguy cơ cao huyết áp, đột quỵ và một số bệnh ung thư (chưa chứng minh được tăng ung thư vú). Một nghiên cứu ở Mỹ lại kết luận chất béo không làm tăng cũng không làm giảm nguy cơ bị ung thư vú. Song các chuyên gia vẫn khuyên con người nên có chế độ ăn lành mạnh là rau củ quả, hạn chế chất béo và thịt đỏ để giảm nguy cơ bị ung thư.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ bị ung thư vú giai đoạn đầu mà bị thiếu vitamin D có nhiều khả năng có tái phát hơn.
Xem chi tiết…

Một phương pháp chẩn đoán sớm ung thư vú

Trong tương lai, một phương pháp thực nghiệm cho phép phát hiện các khối ung thư vú kích thước quá nhỏ, không nhìn thấy trên phim X-quang, sẽ được đưa vào sử dụng. Kỹ thuật mang tên rửa ống dẫn sữa này cho phép phát hiện sớm các tế bào tiền ung thư và ung thư ở vú.

Theo bác sĩ Saraswati Sukumar, Đại học Y Johns Hopkins (Mỹ), trưởng nhóm nghiên cứu, ung thư vú thường bắt đầu từ các tế bào lót ống dẫn sữa. Khi khối u hình thành, các tế bào ung thư sẽ bong ra và đi vào ống dẫn sữa. Một phương pháp đặc hiệu mang tên MSP sẽ giúp phát hiện các tế bào này trong dịch rửa từ ống dẫn sữa.


Kỹ thuật rửa ống dẫn sữa

Thực nghiệm được tiến hành trên các phụ nữ không tìm thấy ung thư trên phim X-quang. Người ta đưa một catheter (ống thông) qua núm vú và dùng nước muối để "rửa" các ống dẫn sữa. Kỹ thuật này rất đơn giản, kéo dài 20 phút và không gây đau đớn. Dịch rửa sau đó sẽ được đem làm xét nghiệm MSP.

Kết quả là thử nghiệm MSP cho kết quả dương tính ở:

- 17 trên 20 phụ nữ có khối u ở vú.

- 2 trên 5 phụ nữ mới bắt đầu bị ung thư ở ống dẫn sữa.

- 5 trên 45 người không bị ung thư.

Như vậy, trong đa số trường hợp MSP dương tính, người phụ nữ bị u ở vú. Theo bác sĩ Sukumar, đây là một phương pháp rất nhạy cảm và tương đối đơn giản. Nó có thể trở thành một kỹ thuật chẩn đoán thường quy, giúp phát hiện sớm bệnh ung thư vú. Phương pháp này sẽ dặc biệt hữu hiệu với những phụ nữ dưới 40 tuổi, do mật độ mô tuyến vú quá dày đặc, khiến việc chẩn đoán bằng X-quang trở nên khó khăn.

Ông Sukumar cho rằng đây là một phương pháp đầy hứa hẹn, nhưng cần được tiếp tục nghiên cứu trên phạm vi rộng hơn.

Xem chi tiết…

Ngồi lâu chóng chết hơn lười tập thể dục

Rút ngắn thời gian ngồi trong ngày có thể là chìa khóa kéo dài tuổi thọ. Thời gian ngồi liên hệ mật thiết tới độ dài telomere hay đoạn cuối nhiễm sắc thể trong tế bào.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đăng trên Tập san y học Anh khẳng định việc hạn chế ngồi quá lâu trong ngày quan trọng hơn cả việc duy trì tập luyện thể lực nếu muốn sống lâu hơn. Nguyên nhân, bởi thời gian ngồi có liên hệ mật thiết tới độ dài telomere  - đoạn cuối của nhiễm sắc thể trong tế bào. Độ dài telomere được cho là manh mối tiết lộ về tuổi thọ của con người.

49 người từ 60 tuổi trở lên và bị thừa cân đã tham gia vào nghiên cứu. Một nửa trong số này đăng ký chương trình tập luyện kéo dài 6 tháng trong khi số còn lại thì không. Những tình nguyện viên còn được đo độ dài điểm cuối nhiễm sắc thể trong tế bào máu và đánh giá mức độ vận động từ các thông số ghi lại trong nhật ký và máy đếm bước chân. Họ cũng trả lời bảng hỏi, trong đó có câu đề cập tới thời gian ngồi hàng ngày.

Ngồi lâu liên tục trong ngày là hiểm họa khôn lường cho sức khỏe nhân loại hiện nay. Ảnh: womenesi.com

Tổng hợp các thông tin trên, nghiên cứu nhận định những người rèn luyện thể lực nhiều có xu hướng khỏe mạnh hơn. Song nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới độ dài đoạn cuối nhiễm sắc thể, hay nói cách khác là tác động tới tuổi thọ lại là thời gian ngồi trong ngày.

Giáo sư Mai-Lis Hellenius, Bệnh viện ĐH Karolinska (Stockholm, Thụy Điển) nhận xét: “Tại nhiều nước, mức độ vận động thể lực của con người đã tăng lên nhưng song song với đó, thời gian ngồi trong ngày cũng nhiều hơn. Không chỉ lười vận động mà có lẽ cả việc ngồi quá lâu là một hiểm họa mới cho sức khỏe của nhân loại trong thời kỳ này”.

Theo bà, chỉ cần giảm đi một giờ ngồi liên tục mỗi ngày, chúng ta có thể tự mở cho mình cơ hội sống lâu hơn và tác động của nó thậm chí lớn hơn cả các bài tập thể dục.
Xem chi tiết…

Cách đơn giản phòng trị đau cổ gáy, đau lưng

Chứng đau vùng cổ gáy và đau lưng rất dễ xảy ra với những người làm công việc ngồi hoặc đứng lâu như kinh doanh, nhân viên văn phòng, tài xế, phi công, giáo viên, thợ may... 

Khi mới bị, triệu chứng thường không nặng, nhưng nếu không biết cách chữa trị kịp thời có thể dẫn tới bệnh lý mãn tính, gây trở ngại rất nhiều cho công việc và cuộc sống.

Lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP HCM nêu ra một số trường hợp đau vùng cổ gáy và đau lưng mới mắc, tình trạng nhẹ, có thể tự điều chỉnh bằng luyện tập và dùng một số bài thuốc đơn giản.

Đau cổ, gáy

Chứng đau vùng cổ, gáy làm ảnh hưởng đến sự vận động của cơ thể, không chỉ gây bất lợi cho từng cá nhân mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. Tuy nhiên, nếu thực hiện luyện tập cổ tích cực và tập thể thao thường xuyên thì những nguy cơ mắc bệnh có thể giảm xuống đáng kể, phần lớn người bệnh sẽ hồi phục sau vài tuần điều trị. Chỉ có khoảng 12% phải chịu đựng chứng này trong thời gian lâu hơn và một số người phải bỏ cả công việc vì những ảnh hưởng của bệnh.

Một số động tác phòng và chữa đau cổ, gáy

Nếu bạn phải làm những công việc văn phòng, phải ngồi nhiều giờ trên ghế, để phòng ngừa đau vùng cổ, gáy, nên tranh thủ vài phút để làm các động tác sau:

- Ngồi thẳng lưng trên ghế dựa, toàn thân thư giãn, nếu đứng thì hai chân đứng rộng bằng vai, thả lỏng toàn bộ các cơ ở cổ, hai mắt nhìn thẳng, hít thở tự nhiên. Dùng tay xoa ấm phần cơ sau gáy từ trên xuống dưới.

Cúi gập đầu xuống (thở ra), ngẩng đầu cao, mắt nhìn lên trần nhà (hít sâu vào), cúi xuống ngẩng lên đếm 1 lần. Thực hiện 10-20 lần.

- Dùng tay tiếp tục xoa ấm phần cơ sau gáy từ trên xuống dưới.

Nghiêng đầu qua trái, cố gắng cho lỗ tai bạn chạm đến mỏm vai trái (thở ra), rồi xoay đầu qua phải, tai chạm mỏm vai phải (hít vào). Qua trái - phải đếm 1 lần. Thực hiện 10-20 lần rồi đổi bên: nghiêng qua phải (thở ra), nghiêng qua trái (hít vào). Thực hiện 5-10 lần.

- Xoay đầu qua trái, cố gắng để cằm chạm vai trái (thở ra), rồi xoay đầu qua phải, cằm chạm vai phải (hít vào). Qua trái - phải đếm 1 lần. Thực hiện 5 lần rồi đổi bên: xoay đầu qua phải (thở ra), xoay đầu qua trái (hít vào), thực hiện 5-10 lần.

Ba động tác trên đây có tác dụng làm cho các đốt sống cổ, cơ cổ và vai của bạn hoạt động tốt hơn, phòng chống thoái hoá cột sống cổ, co cứng cơ cổ, tê mỏi hai cánh tay và bàn tay.

Sau khi thực hiện các động tác trên, tốt nhất nên đi lại một chút, hoặc làm các động tác đứng lên ngồi xuống nhẹ nhàng để có thể bổ trợ cho sức khoẻ toàn cơ thể. Khi ngồi vào bàn, cần chú ý chiều cao giữa ghế và bàn làm việc sao cho đầu không phải cúi hay ngẩng khi nhìn vào màn hình máy tính.

 Ảnh: gofitty

Đau lưng

Đau lưng có hai dạng: Đau lưng cấp và đau lưng mãn tính.

Trường hợp đau lưng cấp, mới phát, thể nhẹ, chưa gây biến chứng gì nguy hiểm thường do một số nguyên nhân sau:

- Thời tiết thay đổi đột ngột, nhiễm lạnh vùng lưng.

- Làm việc trong một tư thế cố định lâu dài.

- Vận động hoặc làm việc trong một tư thế mà cột sống bị lệch, như ngồi không đúng cách.

- Khi mang vác vật nặng, hoặc người mập phì có trọng lượng cơ thể lớn, các đĩa đệm làm cột sống phải chịu sự đè nén quá mức cũng gây đau lưng.

- Mang giày cao gót làm cho trọng lực cơ thể dồn về phía trước, đốt sống lưng L4 và L5 dễ bị trượt ra trước, gây đau lưng cấp.

Trong các trường hợp trên, có thể dùng các biện pháp như hạn chế vận động, nằm nghỉ ngơi, kéo giãn cột sống, chườm nóng hoặc chườm lạnh, xoa bóp, bấm huyệt…

- Tư thế nằm nghỉ ngơi:

Tư thế nằm ngửa thả lỏng người thoải mái trên giường cứng có nệm tốt và có độ lún vừa phải, để giữ được đường cong sinh lý cột sống, không nên nằm trên nệm mềm làm lưng lõm xuống, mạch máu và cơ sẽ bị chèn ép.

Dùng một gối tròn nhỏ lót dưới cột sống cổ, đầu không kê gối. Một gối mỏng kê dưới lưng để lưng hơi ưỡn lên. Một gối kê dưới chân để chân co lên thoải mái. Sau 30 phút, nhẹ nhàng xoay nghiêng người để thay đổi tư thế. Khi dậy, xoay người nằm nghiêng để dậy từ từ.

- Xoa bóp:

Xoa bóp, đấm hoặc chặt nhẹ nhàng hai bên cột sống khoảng 30 phút. Bấm vào các điểm đau và day nhẹ theo chiều kim đồng hồ. Có thể dùng rượu gừng để xoa bóp (một lít rượu trắng ngâm với 0,5 kg gừng tươi gọt bỏ vỏ, giã nát nhuyễn, trong 1-2 ngày là dùng được).

- Chườm:

Khi mới bị đau lưng do chấn thương, có thể dùng túi đựng nước đá chườm lên chỗ đau khoảng 30 phút, làm co mạch, giảm đau tức thì. Nếu đau lưng do co cơ, có thể dùng khăn tẩm nước ấm nóng khoảng 40-45 độ C để đắp lên chỗ đau khoảng 30 phút để làm giãn mạch máu, cơ và dây chằng.

- Kéo giãn cột sống:

Đu hai tay trên xà ngang, đung đưa thân mình khoảng 5-10 phút. Nếu có áo nịt và đai lưng, dùng treo cột sống thì rất tốt.

Sử dụng thuốc

Đông y gọi đau lưng là “yêu thống”, căn cứ vào nguyên nhân và triệu chứng mà chia thành 4 thể bệnh, cùng với những bài thuốc đơn giản sau đây:

1. Thể huyết ứ: Đau lưng như bị đánh, bị đâm vào, chỗ đau cố định không di chuyển, cúi vặn càng đau. Nhiều người từng bị té ngã, chấn thương.

- Hạt cam sao vàng, xay nhỏ thành bột mịn. Ngày uống 10 g, chia 2 lần, chiêu thuốc bằng rượu nhẹ.

- Lá ngải cứu tươi xào nóng với giấm, bọc trong túi vải đắp, chườm ấm vào thắt lưng hay chỗ đau.

2. Thể thận hư: Lưng đau và mỏi, thích đấm bóp, xoa, kèm theo lưng ngực không có sức, làm việc nhiều thì nặng lên, đêm đi tiểu nhiều. Thể thận hư chia ra thận dương hư và thận âm hư.

* Nếu dương hư, người lạnh, chân tay lạnh, bụng và lưng lạnh, mặt trắng nhạt.

- Hạt hẹ 12 g, vừng đen 15 g. Nấu với 500 ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2-3 lần trong ngày.

- Bổ cốt toái (củ ráng bay) 30 g, cạo bỏ lông, xắt mỏng, đem sấy khô rồi xay thành bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 3 g. Chiêu thuốc bằng rượu hoặc nước nóng.

* Nếu âm hư thì người gầy khô, cổ họng khô khát, tâm phiền khó ngủ, sắc mặt đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng.

- Lá dâu tằm 16 g, đậu đen 20 g, mè đen 20 g, cành dâu 20 g, cỏ xước 20 g. Nấu với 600 ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2-3 lần trong ngày.

3. Thể thấp nhiệt: Lưng đau nhức, người bứt rứt, mắt đỏ, miệng đắng họng khô, tiểu tiện ngắn, nước tiểu vàng đỏ, đại tiện táo bón.

- Ðậu đỏ hạt nhỏ 30 g, xơ mướp 12 g, củ hành ta 10 g. Nấu với 600 ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2-3 lần trong ngày.

Rễ cây lau hoặc rễ tranh 30 g, vỏ quả bí ngô già 30 g, nhân trần 15 g. Nấu với 600 ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2-3 lần trong ngày.

4. Thể hàn thấp: Lưng đau, lạnh, ngày nhẹ đêm nặng, những ngày trời trở lạnh hoặc mưa dầm thì bệnh nặng thêm, sắc mặt tái nhạt.

- Cẩu tích (rễ cây lông cu-li) 30 g. Nấu với 500 ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2-3 lần trong ngày.

- Cây lá lốt (thân, lá) 20 g, gừng khô 6 g. Nấu với 600 ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2-3 lần trong ngày.

- Lá ớt hiểm 50 g, rượu trắng vừa đủ. Lá ớt rửa sạch, giã nát, xào nóng rồi cho thêm chút rượu, bọc trong túi vải xoa nhẹ vào chỗ đau khi thuốc còn nóng. Khi thuốc nguội có thể xào lại 1-2 lần.

- Gừng sống 20 g, hành củ 15 g, bột gạo (gạo lứt càng tốt) 30 g. Ðem gừng và hành giã nát rồi cho bột vào. Xào nóng, để nguội vừa phải rồi dùng xoa nhẹ vào chỗ đau.

Xem chi tiết…

5 công dụng chữa bệnh kỳ diệu của măng tây

Măng tây chứa nhiều vitamin cần thiết cho cơ thể, có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch để chống lại bệnh tật.



1. Điều hòa đường huyết

Măng tây giàu vitamin B, là một trong những thực phẩm hữu hiệu nhất trong việc điều hòa đường huyết của cơ thể.

2. Tăng cường hệ miễn dịch

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, măng tây xanh có nhiều tác dụng hơn măng tây trắng. Măng tây xanh chứa hàm lượng kali, khoáng chất cao hơn, có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể.

3. Chữa lành vùng da bị tổn thương

Măng tây là một trong những thực phẩm giàu vitamin A nhất. Đây là loại vitamin quan trọng cho làn da khỏe, có tác dụng chữa lành vùng da bị tổn thương và giúp chống lại quá trình lão hóa da.

4. Tốt cho hệ tiêu hóa

Măng tây là thực phẩm vô cùng tốt cho hệ tiêu hóa bởi nó chứa hàm lượng vitamin C và chất xơ cao cũng như hàm lượng protein. Đây là thực phẩm rất tốt cho các vận động viên.

5. Chống ung thư

Măng tây chứa thành phần quan trọng là inulin. Loại carb này sẽ không được tiêu hóa cho đến khi nó đi vào ruột già và làm sạch đường ruột, qua đó, ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột kết.
Xem chi tiết…

10 thực phẩm thần kỳ có thể giúp bạn “cai” thuốc lá

Chocolate đen, bỏng ngô hay gừng là một số loại thực phẩm có thể giúp bạn từ bỏ thói quen hút thuốc lá hiệu quả.

1. Các loại quả mọng

Các loại quả mọng bao gồm quả dâu tây, quả mâm xôi, quả việt quất,… đều có thể giúp bạn ngăn được cơn thèm thuốc lá.

2. Chocolate đen

Khi bạn cảm thấy thèm thuốc lá, hãy nhai một mẩu chocolate đen. Nó có thể sẽ giúp bạn quên đi cảm giác thèm thuốc nhanh chóng.


3. Bỏng ngô

Bỏng ngô cũng là một trong những “thần dược” giúp bạn từ bỏ thói quen hút thuốc.

4. Cần tây

Bạn cũng có thể thử nhai cần tây sống để quên đi cảm giác thèm thuốc.

5. Nghệ

Thêm nghệ vào các món ăn không chỉ giúp món ăn thêm hấp dẫn mà còn giúp bạn có thể chặn đứng cơn thèm thuốc lá.

6. Pho mát

Nghe có vẻ lạ lùng nhưng việc sử dụng pho mát để cai thuốc lá lại có hiệu quả với một số người. Bạn hãy nhai một chút pho mát, đặc biệt là loại pho mát mặn, để xua tan cơn thèm thuốc lá.

7. Cây quế

Quế cũng là một trong những loại “thần dược” có thể giúp bạn từ bỏ thói quen hút thuốc.

8. Gừng

Loại thực phẩm này cũng rất tốt trong việc ngăn chặn cơn thèm thuốc lá. Bạn có thể nghiền nhỏ gừng và trộn với một chút đường để ăn. Hỗn hợp này sẽ ngăn chặn cảm giác thèm thuốc.

10. Thức ăn mặn

Những thực phẩm chứa muối có thể ngăn chặn cảm giác thèm thuốc lá. Ngoài ra, bạn hãy tránh những thực phẩm không có calo bao gồm khoai tây chiên hay một số thực phẩm chứa đường, thức uống có cồn, đồ ăn quá cay, nước soda…
Xem chi tiết…

Trị bệnh bằng ngải cứu qua các món ăn bài thuốc đơn giản

Ngải cứu là cây rau dễ trồng và phổ biến ở Việt Nam. Không ít người biết rằng, đây cũng là cây thuốc rất hữu ích với đời sống chúng ta. Tuy nhiên việc sử dụng nó sao cho đúng cách và có hiệu quả thì không phải ai cũng biết.

Lương y Vũ Quốc Trung cho biết, ngải cứu có vị đắng, mùi thơm, tính ấm, được sử dụng lâu đời trong dân gian và trong Đông y để chữa trị trong các trường hợp: phụ nữ kinh nguyệt không đều, có thai ra huyết, thổ huyết, chảy máu cam, đái ra máu, ghẻ lở, viêm da, dị ứng, viêm gan, trừ giun, điều hòa khí huyết, ôn kinh, an thai, đau bụng do lạnh, nôn mửa, kiết lỵ… Ngải cứu có thể dùng để chế biến các món ăn hoặc được sao khô lên làm thuốc. Lương y Vũ Quốc Trung chỉ dẫn một số cách chữa bệnh bằng ngải cứu như sau:

Làm thuốc điều kinh: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, lấy mỗi ngày 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường chia uống 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

Giúp an thai: Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày. Bài thuốc này có tác dụng an thai.

Những người kiệt sức hay các bà mẹ đang cho con bú: Lấy 5 cành lá ngải cứu tươi (hoặc khô), rửa sạch, băm nhỏ, pha với một cốc nước sôi, uống hàng ngày sẽ mau hồi phục sức khỏe.


Trị mụn trứn cá: Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục sẽ cho làn da mịn màng và trắng hồng.

Trị mẩn ngứa, ghẻ lở, rôm sảy ở trẻ: Với những trẻ nhỏ thường hay bị rôm sảy, xay nát lá ngải cứu, lọc lấy nước cốt rồi hòa vào nước tắm của trẻ. Làm liên tục trong vài ngày, các nốt ngứa sẽ lặn.

Ngoài các bài thuốc trên, có thể sử dụng ngải cứu trong bữa ăn hàng ngày bằng các món ăn sau:

Canh ngải cứu nấu thịt nạc: Thịt nạc heo băm nhỏ, ướp hạt nêm, xào qua, nêm nước, đun sôi cho rau ngải cứu. Canh sôi đều, nêm hạt nêm vừa miệng, ăn nóng. Bài thuốc chữa các bệnh của phụ nữ (kinh nguyệt không đều, khí hư, đau bụng do lạnh...).

Trứng gà tráng ngải cứu: Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín. Giúp lưu thông máu lên não trị bệnh đau đầu.

Gà tần ngải cứu: 1 con gà đen khoảng 500gr, 3 trái táo đỏ, ý dĩ, kỷ từ, 3 lát sâm ta, ngải cứu, hạt sen, tam thất, hạt nêm. Gà làm sạch, mổ moi, nhồi tất cả các nguyên liệu vào trong gà, cho gà vào nồi, đổ săm sắp nước, nêm hạt nêm vừa miệng, tần cho đến khi gà mềm nhừ. Món ăn này có tác dụng bồi bổ sức khỏe, hoạt huyết, xương cốt dẻo dai.

Cháo ngải cứu: Lá ngải cứu tươi 50g, gạo tẻ 100g, đường đỏ vừa đủ (có thể cho thêm lá lốt). Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa. Ăn liên tục 3 - 5 ngày, có thể chữa động thai hoặc giảm đau thấp khớp.

Tuy ngải cứu có nhiều tác dụng như trên nhưng không nên dùng nhiều vì nó cũng có thành phần độc tố. Khi dùng lá ngải cứu sắc uống thay trà, chỉ nên sử dụng khoảng 3-5g khô (9-15g tươi). Chỉ nên sử dụng theo từng đợt, khỏi bệnh thì ngừng. Đối với những chị em cần dùng các món có ngải cứu để tẩm bổ hoặc để an thai… chỉ nên dùng 3-5 ngọn nhỏ (9-15g tươi), tránh dùng quá liều.   
Xem chi tiết…

7 dấu hiệu con bạn bị tăng động giảm chú ý

Tăng động giảm chú ý là một rối loạn tâm thần phức tạp có thể ảnh hưởng đến sự thành công của trẻ ở trường và các mối quan hệ cộng đồng. Không may, các triệu chứng của nó rất đa đạng và đôi khi khó nhận ra.

Dưới đây là 7 dấu hiệu phổ biến có thể chỉ ra bé bị tăng động.

1. Tôi, tôi tôi

Một dấu hiệu thường gặp của trẻ tăng động là không có khả năng nhận biết được nhu cầu và mong muốn của người khác. Trẻ có thể cắt ngang lời người khác khi họ đang nói chuyện và rất khó khăn khi chờ đến lượt, chẳng hạn như trong hoạt động trong lớp và khi chơi đùa với các bạn.



2. Xáo trộn tình cảm

Trẻ tăng động giảm chú ý có thể khó mà kiềm chế được cảm xúc - cả tốt và xấu. Trẻ có thể bùng phát các cơn thịnh nộ hoặc giận giữ ở những thời điểm không phù hợp.

3. Bồn chồn, không yên

Dường như trẻ có một chiếc "động cơ luôn hoạt động" ở trong người. Trẻ mắc tăng động giảm chú ý thường không thể ngồi im. Chúng sẽ cố gắng đứng lên và chạy xung quanh, hoặc khi buộc phải ngồi xuống, chúng thường liên tục ngọ nguậy hoặc vặn vẹo trong ghế.

4. Không hoàn thành nhiệm vụ

Trẻ bị tăng động giảm chú ý có thể thích thú với rất nhiều thứ, nhưng không theo những thứ đó đến tận cùng. Thường thì trẻ sẽ bắt đầu một dự án, hay một công việc, hoặc bài tập về nhà, nhưng bỏ dở giữa chừng và quay sang thứ khác thu hút sự chú ý của chúng.

5. Thiếu tập trung

Trẻ mắc chứng này sẽ gặp khó khăn trong việc chú ý ngay cả khi đang bị người lớn nhắc nhở. Trẻ nói là đang nghe lời bạn, nhưng khi được yêu cầu lặp lời của bạn, trẻ sẽ không biết nói gì.

6. Lỗi lơ lễnh

Điều quan trọng cần nhớ là trẻ bị tăng động giảm chú ý không hề kém thông minh so với các bạn khác. Vấn đề là, chúng gặp khó khăn để lắng nghe các lời hướng dẫn rằng cần lập kế hoạch hay thực hiện một kế hoạch, dẫn tới những lỗi do lơ đễnh.

7. Mơ màng

Trẻ mắc tăng động giảm chú ý thường được mô tả điển hình là hay huyên náo, ồn ào, nhưng có những trường hợp không phải thế. Một dạng khác của chứng này thì yên tĩnh hơn và ít liên quan đến bạn bè. Trẻ có thể nhìn lơ đãng ra ngoài trời, như đang mơ màng, và bỏ qua những điều đang diễn ra quanh mình.
Xem chi tiết…

Lý do bạn nên giảm ăn đường

Đường là một trong những chất dễ gây nghiện nhất, chưa kể nó còn khiến bạn mắc bệnh lâu khỏi hơn.

Dưới đây là những lý do bạn nên giảm ăn đường.

duong-9997-1395981780.jpg

1. Đường là một chất gây nghiện

Một trong những lý do đầu tiên và có lẽ quan trọng nhất để giảm ăn đường càng sớm càng tốt, đó là đường là một chất gây nghiện. Đường đã được chứng minh là gây nghiện nhiều hơn hơn so với cocaine. Càng ăn nhiều đường, bạn càng muốn ăn nhiều hơn, cơ thể bạn sẽ tạo ra những phản ứng thèm đường vào một thời điểm nhất định trong ngày.

2. Đường làm thay đổi tâm trạng của bạn

Thời điểm chúng ta cảm thấy buồn bã và ủ rũ, đường có thể làm thay đổi tâm trạng. Vì lượng đường trong máu sẽ tăng lên khi bạn ăn đường sau đó giảm xuống nhanh chóng khi cơ thể tiêu hóa nó, do vậy đường sẽ tạo nên sự rối loạn tâm trạng và tiêu hóa.  

3. Đường cản trở hệ miễn dịch

Đường cản trở hệ miễn dịch của bạn một cách đáng kể, và làm cho cơ thể bạn thậm chí dễ bị cảm lạnh và cảm cúm hơn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một cơ thể với độ pH thấp (nồng độ axit cao) là môi trường tốt nhất cho các tế bào ung thư phát triển mạnh. Nếu bạn đang có triệu chứng mắc bệnh cảm cúm, hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư, bạn nên giảm ăn đường để bảo vệ sức khỏe cho bản thân.

4. Đường khiến bạn già đi

Chẳng ai muốn mình già đi cả. Đường phá vỡ nội tiết tố của bạn và kích thích các gốc tự do, gây bệnh, phá hủy các ADN và dẫn đến lão hóa. Bạn sẽ trông trẻ đẹp hơn nếu bỏ qua phần bánh sinh nhật.

5. Đường làm bạn béo hơn

Bạn từng nghĩ rằng đường sẽ giúp bạn khỏe mạnh hơn? Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo phụ nữ không nên ăn quá sáu muỗng cà phê đường mỗi ngày. Một muỗng cà phê đường cát tương đương với 4 gram đường.

6. Đường làm bạn không tỉnh táo

Tất cả chúng ta đều bận rộn với rất nhiều việc cần làm trong ngày. Bạn sẽ có cảm giác bối rối, không tỉnh táo sau khi lượng đường trong cơ thể sụt giảm. Tiếp đó, bạn lại muốn ăn thêm một lượng đường tương tự.

7. Đường làm bạn cảm thấy đói hơn

Chất fructose trong đường có thể khiến bạn cảm thấy đói hơn. Khi lượng đường trong máu giảm, bạn sẽ không thể kiểm soát được sự thèm ăn. Bạn sẽ muốn ăn nhiều thực phẩm chế biến sẵn với nhiều calo hơn là thực phẩm lành mạnh và phải mất công nấu nướng. 
Xem chi tiết…